Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-11-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành, bà Lê Thị Tuyết Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, Đồng Nai.

- Bị đơn: Chị Lê Ngọc T1, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai

(Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2001, khi về sống chung với nhau có tổ chức đám cưới và được gia đình hai bên đồng ý nhưng anh và chị T1 không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2010 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình vợ chồng không còn phù hợp với nhau nên thường xuyên xảy ra cự cãi và xung đột, cuộc sống không có hạnh phúc. Anh cũng đã cố gắng chịu đựng và khuyên can nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể về sống chung với nhau được nữa vì vậy anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1.

Về con chung: Vợ chồng có 04 người con tên là Nguyễn Ngọc Anh T2, sinh ngày 17/4/2002, Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/4/2004, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 06/4/2006 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/4/2010. Hiện nay cháu T2, cháu K1, cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Tại biên bản ghi lời khai bị đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2001 và có tổ chức đám cưới, được gia đình hai bên đồng ý nhưng chị và anh T không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình vợ chồng không còn hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột. Chị đã cố gắng tìm mọi biện pháp để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn với chị thì chị cũng đồng ý ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 04 người con tên là Nguyễn Ngọc Anh T2, sinh ngày 17/4/2002, Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/4/2004, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 06/4/2006 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/4/2010. Hiện nay cháu T2, cháu K1, cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Vợ chồng không nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T1 là vợ chồng; về con chung: Anh T và chị T1 04 người con tên là Nguyễn Ngọc Anh T2, sinh ngày 17/4/2002, Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/4/2004, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 06/4/2006 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/4/2010. Hiện nay cháu T2, cháu K1, cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng cho con giải quyết. Đề nghị giao cháu A cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời chị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét; về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

  1. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
    • Bị đơn chị Lê Ngọc T1 có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • Anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với chị T1. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự anh T là nguyên đơn và chị T1 là bị đơn, được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
  2. Về áp dụng pháp luật nội dung:
    1. Về hôn nhân: Anh T và chị T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn nên không được cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không còn hợp nhau nên xảy ra cự cãi, xung đột lẫn nhau, anh T, chị T1 đã không còn sống chung với nhau từ năm 2010 cho đến nay
    2. Xét thấy, mặc dù anh T, chị T1 đủ điều kiện kết hôn nhưng lại chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào khoản 1, Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000; khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016, Hội đồng xét xử xem xét tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T1 là vợ chồng.

    3. Về nuôi con: Anh T, chị T1 trình bày vợ chồng có 04 (Bốn) con chung là Nguyễn Ngọc Anh T2, sinh ngày 17/4/2002, Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/4/2004, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 06/4/2006 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/4/2010. Hiện nay cháu T2, cháu K, cháu K1 đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân nên anh T, chị T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    4. Khi ly hôn anh T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng cho con. Chị T1 cũng đồng ý theo yêu cầu của anh T.

      Xét thấy, từ khi anh T và chị T1 không sống chung với nhau, anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, ngoài ra cháu A cũng có đơn nguyện vọng muốn sống chung anh T.

      Từ các căn cứ trên và để đảm bảo cho các con chung phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tránh sự xáo trộn về đời sống tâm lý, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

    5. Về tài sản chung: Anh T, chị T1 trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    6. Về nợ chung: Anh T, chị T1 trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
  4. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
  • - Điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

  1. Tuyên bố: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Bá T và chị Lê Ngọc T1 là vợ chồng.
  2. Về nuôi con: Anh T, chị T1 có 04 (Bốn) người con chung là Nguyễn Ngọc Anh T2, sinh ngày 17/4/2002, Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/4/2004, Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 06/4/2006 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/4/2010. Hiện nay cháu T2, cháu K, cháu K1 đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân nên anh T, chị T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  3. Giao con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/4/2010 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm thời chị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.

    Chị T1 có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Anh T, chị T1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về nợ chung: Anh T, chị T1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Bá T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013469 ngày 10/10/2024 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA DS huyện Tân Phú;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã Phú Thịnh;
  • - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HNGĐ-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 165/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa anh T và chị T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger