|
TÒA ÁN NHÂN DÂN VIỆT NAM THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2024/HS-ST
Ngày: 08 - 11 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Văn Nay
Ông Đinh Văn Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986, tại Cà Mau; nghề nghiệp: Tài xế; Nơi thường trú: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau; Chổ ở: ấp B, xã L, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; con ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1969 và bà Tô Thị S, sinh năm 1968; Bị cáo có vợ Trần Thị N, sinh năm 1993 và có 03 con là Nguyễn Gia K, sinh năm 2015, Nguyễn Gia Q, sinh năm 2017 và Nguyễn Gia H, sinh năm 2019.
Nhân thân: Ngày 14/5/2009, bị Tòa án huyện C, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 30/2009/HSST, bị cáo kháng cáo. Tại bản án số 140/2009/HSPT ngày 26/8/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 26/8/2009, ngày 26/01/2010 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.
Bị hại: Bà Võ Thị B, sinh năm 1953 (đã chết)
Nơi thường trú: tổ C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
- Ông Trần C, sinh năm 1952 (Chồng của bị hại).
- Ông Trần T1, sinh năm 1977 (Con của bị hại)
- Ông Trần T2, sinh năm 1973 (Con của bị hại)
- Ông Trần M, sinh 1972 (Con của bị hại).
- Ông Trần M1, sinh năm 1970 (Con của bị hại)
Cùng nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trần Công B1, sinh năm 1972
- Chị Dương Thị Thu T3, sinh năm 1985
- Chị Nguyễn Thị Liên P, sinh năm 1977
Nơi cư trú: 25/66, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: số nhà D, Cầu X, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo có mặt; người đại diện hợp pháp cho bị hại ông Trần C,
ông Trần M có mặt; người liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T có Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 25/10/2021, là lái xe chở hàng hóa là thuốc tây cho Công ty L1, có trụ sở tại tỉnh Long An.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, T điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-011.62 lưu thông trên đường Q hướng từ thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận. Khi xe ô tô tải do T điều khiển đi đến khu vực Km 1824+800 Quốc lộ A thuộc phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai với vận tốc 62km/giờ, chạy trong làn đường ô tô, sát dải phân cách (đoạn đường có gồ giảm tốc; một số biển báo giao thông: biển báo đường có gồ giảm tốc, biển báo tốc độ tối đa 60km/giờ, biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo nhường đường cho người đi bộ) thì lúc này ông Trần C, sinh năm 1952, trú tại: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô biển số 60B7-113.66 chở phía sau vợ là bà Võ Thị B, sinh năm 1953 đang chạy phía trước cùng chiều, rẽ trái để vào Bệnh viện C2. Do chạy nhanh, T xử lý không kịp nên đã đụng mạnh từ phía sau đuôi xe mô tô, làm cho ông C và bà B té ngã xuống đường. Cùng thời điểm trên thì có Trần Công B1, sinh năm 1972, nơi cư trú: 25/66 khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe ô tô mang biển số 60H-000.21 chạy phía sau, thấy xe ô tô tải do T điều khiển dừng lại đột ngột nên đã phanh gấp, va chạm vào đuôi xe ô tô biển số 50H-011.62 do T điều khiển.
Hậu quả: bà B được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong vào ngày 30/01/2024, ông C bị xây xát ngoài da và nứt xương vai; xe ô tô biển số 60H-000.21 và xe ô tô biển số 50H-011.62 bị hư hỏng nhẹ phần đầu và đuôi xe; xe mô tô biển số 60B7-133.66 cũng bị hư hỏng nhẹ.
Tại biên bản dựng lại hiện trường và sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập ngày 20/3/2024 thể hiện:
Hiện trường vụ tai nạn được tính theo hướng từ thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận được mô tả như sau:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông (nơi dựng lại hiện trường) là đoạn đường thẳng, trải nhựa, có dải phân cách bằng bê tông chia mặt đường thành 02 chiều đường xe chạy, có lối mở rộng khoảng 47m, chiều đường nơi xảy ra tai nạn có vạch sơn đứt quãng chia mặt đường thành 02 làn đường xe chạy, làn đường sát dải phân cách cứng cố định rộng 3,5m (làn đường số 1), làn đường giáp mép đường bên phải rộng 3,8m (làn đường số 2).
(1) V phanh bên trái của xe ô tô 60H-000.21: Vết phanh dài 9,1m, từ đầu vết phanh (1) vào mép đường bên phải chuẩn là 6m; từ cuối vết phanh (1) vào đầu dải phân cách là 5,8m.
(2) Vết cày xe mô tô 60B7-113.66: Vết cày đứt quãng liên tục đến xe là 15,4m, đo từ đầu vết cày vào mép đường chuẩn là 5,1m.
(3) Xe ô tô biển số 60H-000.21: Sau tai nạn, xe dừng trên làn đường số 01, đầu xe quay về hướng tỉnh Bình Thuận, khoảng cách gần nhất đo từ trục bánh sau bên phải vào mép đường chuẩn là 4,2m, đo từ trục bánh trước bên phải xe ô tô là 4,5m. Khoảng cách từ trục bánh trước bên phải xe ô tô (3) và trục bánh sau bên phải xe ô tô (4) là 3,2m.
- (4) Xe ô tô 50H-011.62: Sau tai nạn xe ô tô dừng trên làn đường số 01, đầu xe quay về hướng tỉnh Bình Thuận, từ trục bánh xe sau bên phải đến mép đường chuẩn là 4,4m; từ trục bánh xe trước bên phải đến mép chuẩn là 4,7m; từ trục bánh trước bên trái xe theo chiều hướng ghi nhận đến trục bánh sau xe mô tô là 2,4m.
- (5) Xe mô tô 60B7-113.66: Sau tai nạn xe ngã sang phải trên làn đường số 01; đầu xe hướng về lề trái chếch về hướng thành phố Hồ Chí Minh, đuôi xe quay vào mép đường chuẩn, hơi chếch về hướng Bình Thuận.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L lập ngày 29/02/2024 thể hiện:
- Xe ô tô biển số 50H-011.62: kính chắn gió phía trước nứt, bể; ốp nhôm lốc máy màu trắng bị móp, thụng vào trong; ốp nhựa lốc máy gãy vỡ, rời khỏi xe; hai cửa thùng xe móp nhẹ vào trong, hai song sắt thùng xe bị cong vênh vào trong; thanh sắt gắn biển số xe sau cong vênh...
- Xe ô tô biển số 60H-00021:có vết móp thụng trên ốp nhôm lốc máy đầu xe; móp ốp nhôm lọc gió (mép trên) móp vào trong...
- Xe mô tô biển số 70B7-113.66: cản sau màu đen cong vênh, biến dạng từ dưới lên trên, từ sau ra trước, phần cản bên trái có vết trầy rách; ốp inox bảo vệ hệ thống đèn sau bị cong, móp, trầy xước từ ngoài vào trong; vè chắn bùn sau và biển số cong vênh, biến dạng; ốp xích trầy xước, móp...
Tại Bản kết luận giám định số 116/KLTTHS-TTPYĐN ngày 08/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ về nguyên nhân tử vong của bà Võ Thị B, sinh năm 1953, kết luận: nguyên nhân tử vong của nạn nhân Võ Thị B do chấn thương sọ não hậu quả của tai nạn giao thông gây: Nhiều ổ dập não xuất huyết thái dương phải, xuất huyết não thân thể chai, tụ máu dưới màng cứng dọc liềm não, lều tiểu não hai bên, xuất huyết dưới nhện rải rác bán cầu hai bên, bể quanh cuống não, xuất huyết trong não thất; sưng tụ máu mô mềm vùng đầu phải.
Tại Bản kết luận giám định số 289/TTĐKXCG ngày 23/3/2024 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Đ, kết luận: ngay trước khi xảy ra vụ tai nạn giao thông vào ngày 29/1/2024 tại phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì xe ô tô tải (thùng kín) mang biển số 50H-011.62 và xe ô tô tải (có mui) mang biển số 60H-000.21 đảm bảo an toàn kỹ thuật và đủ điều kiện lưu thông trên đường.
Tại Bản kết luận giám định số 1724/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh về tốc độ của xe ô tô tải mang biển số 50H-011.62 và xe ô tô tải mang biển số 60H-000.21 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông vào ngày 29/1/2024 tại K1824+800 trên đường Q thuộc địa phận phường S, thành phố L. Kết luận: Tốc độ phương tiện giao thông gắn thiết bị giám sát hành trình ký hiệu A1 (của xe ô tô tải 60H-000.21) thời điểm trước khi xảy ra va chạm là: 55km/giờ. Tốc độ phương tiện gắn thiết bị giám sát hành trình ký hiệu A2 (của xe ô tô tải 50H-011.62) thời điểm trước xảy ra va chạm là: 62km/giờ.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe ô tô tải mang biển số 60H-000.21 và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô tải mang biển số 60H-000.21;
- 01 (một) xe ô tô tải mang biển số 50H-011.62, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định và 01 (một) Giấy đăng ký xe của xe ô tô tải mang biển số 50H-011.62;
- 01 (một) xe mô tô mang biển số 60B7-113.66;
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Công B1;
- 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các phương tiện trên và các giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu hợp pháp. Riêng Giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Thanh T tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc xử lý vụ án và thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bà Võ Thị B được bà Nguyễn Thị Liên P là chủ xe ô tô tải mang biển số 50H-011.62 và bị cáo Nguyễn Thanh T hỗ trợ chi phí mai táng với tổng số tiền là 75.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 161/CT-VKSLK ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận.
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Trần Công trình B2: Do các con tôi bận công việc nên chỉ mình tôi và con là Trần M lên tham dự phiên tòa. Vụ việc xảy ra như nội dung bản cáo trạng là đúng, lúc đó tôi chở bà B qua đường thì tôi bật xi nhan và quan sát, tôi có thấy xe tải của bị cáo chạy từ xa nhưng rất nhanh nên tông vào xe tôi. Bị cáo và chủ xe đã bồi thường cho gia đình chúng tôi, tại phiên tòa hôm nay tôi không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hinh phạt cho bị cáo, tôi không tham gia tranh luận.
* Người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Trần M trình bày và tham gia tranh luận: Tôi thống nhất lời trình bày của cha tôi ông Trần C, gia đình tôi không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hinh phạt cho bị cáo.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự cùng nhân thân của bị cáo. Xử phạt bị cáo: Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo từ 01 năm đến 02 năm.
Về xử lý vật chứng: Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Nguyễn Thanh T tiếp tục tạm giữ trong hồ sơ vụ án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về dân sự: Đã giải quyết xong.
* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói sau cùng: Bị cáo do thiếu quan sát, chạy quá tốc độ, do không giữ khoảng cách an toàn nên để xảy ra tai nạn, bị cáo rất ân hận, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình lo cho con nhỏ, vợ bệnh ung thư.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người người đại diện bị hại, người liên quan vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Nguyễn Thanh T điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-011.62 lưu thông trên đường Q hướng từ thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận, khi xe ô tô tải đi đến khu vực Km 1824+800 Quốc lộ A thuộc phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, đến đoạn đường giao nhau, do không chú ý quan sát, chạy quá tốc độ cho phép nên đã đụng vào đuôi xe mô tô biển số 60B7-113.66 do ông Trần C điều khiển chở theo bà Võ Thị B đang lưu thông phía trước cùng chiều để chuyển hướng qua đường làm cho ông C và bà B té ngã xuống đường. Hậu quả bà B đã tử vong, ông C bị chấn thương nhẹ.
Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là lỗi hoàn toàn của bị cáo Nguyễn Thanh T. Bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải mang biển số 50H-011.62, khi đến khu vực giao nhau, T không chú ý quan sát, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, khi đến khu vực giao nhau có biển báo hiệu nguy hiểm nhưng T không giảm tốc độ mà chạy xe với tốc độ 62km/h vi phạm quy định khoản 11, khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12, Điều 24 Luật Giao thông đường bộ.
Khoản 11, 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“...
11. Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định.
...
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo...”
Điều 24 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ....”
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn giao thông đường bộ, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo từng vi phạm pháp luật, đã bị Tòa án đưa ra xét xử nhưng đã được xóa án tích; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và được đại diện bị hại làm đơn xin bãi nại dân sự, xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông cố là Đoàn Văn H1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, ông nội là Nguyễn Văn T4 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, bà nội là bà Đoàn Thị Đ là cựu chiến binh, ông ngoại là Tô Văn K1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bà ngoại là Trần Thị C1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần buộc bị cáo chấp hành một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội, bên cạnh đó cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đối với mọi người.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính đi làm thuê phải nuôi con nhỏ, vợ bệnh; nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
[8] Về các vấn đề khác có liên quan: Đối với hành vi của ông Trần Công B1, ông B1 đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải mang biển số biển số 60H-000.21 không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm vào đuôi xe ô tô tải mang biển số 50H-011.62 chạy ở phía trước, đây chỉ là lỗi hành chính sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan và Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Công B1 đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét xử phạt hành vi vi phạm hành chính của ông Trần Công B1 theo quy định pháp luật.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với Giấy phép lái xe hạng C số: [...] do Sở G cấp ngày 25/10/2021 cho bị cáo Nguyễn Thanh T hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án, do bị cáo không bị phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, ngưởi đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 05/6/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T Giấy phép lái xe hạng C số: [...] do Sở G cấp ngày 25/10/2021 (hiện đang do Tòa án lưu giữ).
Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Trường |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thanh Than vi pham quy dnh tham gia giao thong
