Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HS-ST

Ngày 05 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và ông Đặng Hữu Tấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T (tên gọi khác T1), sinh năm: 1995, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H (chết) và bà Vương Thị Ngọc M (chết); vợ Lê Thị Hoài T2 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm: 2018;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).

- Bị hại: Ông Huỳnh Hữu H1, sinh năm: 1984; Địa chỉ: số H, tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0915.393.xxx (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Huỳnh Chí Ú, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. ĐT: 0939.233.xxx (vắng mặt).

+ Ông Huỳnh Tấn Á, sinh năm: 1986; Địa chỉ: số A N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0941.444.xxx (vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Trần Minh Q (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Thanh T đang ở nhà thuộc tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thì thấy anh Trần Minh Q đậu xe ba gác trước nhà T để đưa giàn giáo lên xe, T đến nói chuyện với anh Q, thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, màu đỏ, biển số 65H4-9288 của anh Huỳnh Hữu H1 đang dựng trước nhà anh H1 (cách nhà T khoảng 06m), xe không khóa cổ, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. T vào nhà mặc áo khoác màu xám, lấy nón vải trùm đầu lại nhằm tránh người khác phát hiện, rồi quay trở ra lấy trộm xe mô tô biển số 65H4-9288 của anh H1 dẫn bộ về hướng Văn phòng khóm Đ, phường M, thành phố L, khi cách Văn phòng khóm khoảng 30 mét, T bứt dây điện đấu nối nguồn khởi động xe chạy đi. Sau đó, đem xe bán cho người tên V (không rõ nhân thân) được 1.300.000 đồng, tiêu xài cá nhân. Đến ngày 18 tháng 6 năm 2024, T đến Công an phường M đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màn hình cảm ứng có sim số 0774.898.006 và 01 quần cụt màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên, để định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự trên địa bàn thành phố L: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Jiulong, loại xe số, kiểu dáng Wave, màu sơn đỏ, biển số 65H4-9288, trị giá 3.020.000 đồng.

Kết luận giám định số 1108/KL-KTHS ngày 11 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trên tập tin video lưu trữ trong USB gửi giám định. Trích xuất 07 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa CD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo kết luận giám định 01 phụ lục gồm 04 trang A4.

Huỳnh Hữu H1, Huỳnh Chí Ú, Trần Minh Q, Nguyễn Thanh S, Lê Phú C, trình bày phù hợp nội dung vụ án. H1 yêu cầu xử lý hình sự đối với T, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Tấn Á (Sửu) trình bày: Át có nhận cầm xe Wave, màu đỏ, không nhớ biển số của một thanh niên (không rõ nhân thân), không biết xe mô tô trên do phạm tội mà có với giá 1.350.000 đồng (đưa tiền mặt 350.000 đồng, chuyển tiền vào tài khoản 1.000.000 đồng). Sau đó, do người cầm xe không đến chuộc lại xe, nên Á đã bán xe lại cho một người thanh niên (không rõ nhân thân với giá 1.500.000 đồng.

Trần Văn B, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H2 Tại Cáo trạng số 178/CT-VKSLX ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, đối với xe của bị hại H1 thì bị cáo tự nguyện xin bồi thường theo giá trị mà Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự trên địa bàn thành phố L đã định với số tiền 3.020.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường cho bị hại Huỳnh Hữu H1 số tiền 3.020.000 đồng.

Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động; tịch thu tiêu hủy 01 quần cụt màu đen.

Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Thanh T lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, biển số 65H4-9288, trị giá 3.020.000 đồng của ông Huỳnh Hữu H1 bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân. Lẽ ra, bị cáo phải tìm kiếm cho mình một việc làm chân chính để nuôi sống bản thân và rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội. Nhưng ngược lại, chỉ vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn sức lao động cực nhọc nên đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 65H4-9288 trị giá 3.020.000 đồng của ông Huỳnh Hữu H1. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi cố ý gây thương tích. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại cho bị hại. Quá trình điều tra, bị hại không yêu cầu bồi thường, tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường theo giá trị tài sản của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự trên địa bàn thành phố L với số tiền 3.020.000 đồng. Xét thấy, sự tự nguyện của bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Huỳnh Hữu H1 số tiền 3.020.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màn hình cảm ứng có sim số 0774.898.006 do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 quần cụt màu đen, không còn giá trị sử dụng (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

[8] Đối với Nguyễn Thanh T khai bán xe mô tô biển số 65H4-9288 cho một người tên V (không rõ nhân thân) 1.300.000 đồng, nhận tiền mặt 300.000 đồng, nhận chuyển khoản 1.000.000 đồng. Qua xác minh tài khoản trên đứng tên Huỳnh Tấn Á, Á không thừa nhận mua xe mô tô biển số 65H4-9288 của T, mà nhận cầm xe của một thanh niên (không rõ nhân thân), khi cầm không biết xe mô tô trên do phạm tội mà có, sau đó bán xe lại cho người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Á về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ. Việc Á cầm xe của người khác không đảm bảo các điều kiện quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện về án ninh trật tự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L chuyển hồ sơ Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Át là có căn cứ. Người tên V, không rõ nhân thân mua xe mô tô do T bán Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T (T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T (Trụi) 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 18/6/2024).

[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Huỳnh Hữu H1 số tiền 3.020.000 đồng (ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màn hình cảm ứng có sim số 0774.898.006 do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 quần cụt màu đen, không còn giá trị sử dụng (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

[4] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T (T1) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 165/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger