Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HSST

Ngày 16/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Nguyễn Phước Lộc

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí

2. Ông Trần Ngọc Quân

Nơi công tác: Trường THCS Dương Đông 2

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa:

Ông Trịnh Hải Đăngông Lê Hữu Nghị, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Công H (tên gọi khác: H chùa), sinh ngày 09/5/2002; tại: S, Đồng Tháp; Nơi cư trú: số A P, khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Quang D; Con bà: Nguyễn Thị L; Vợ, Con: Chưa có; Tiền sự: Ngày 06/8/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng (Quyết định số 98/2021/QĐ-TA); Tiền án: Không. Nhưng về nhân thân: Ngày 11/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án số 07/2019/HS-ST); Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Có mặt.

2. Lý Thái Q, sinh ngày 25/9/2006; tại: P, Kiên Giang; Nơi cư trú: khu phố D, phường D, thành phố P, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lý T; Con bà: Lê Thị M; Vợ, Con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không. Nhưng về nhân thân đã bị Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2024/HS-ST ngày 08/8/2024; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 07/10/2023 được cho bảo lĩnh tại ngoại. Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P trong vụ án khác. Có mặt.

3. Trịnh Gia T1 (tên gọi khác: Trọng M1), sinh ngày 17/5/2005; tại: P, Kiên Giang; Nơi cư trú: khu phố A, phường D, thành phố P, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Gia L1; Con bà: Nguyễn Thị K; Vợ; Con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Có mặt.

4. Nguyễn Gia L2, sinh ngày 27/5/2005; tại: Rạch G, Kiên Giang; Nơi cư trú: số F N, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc T2; Con bà Nguyễn Thị Bích T3; Vợ; Con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Có mặt.

5. Dương Minh D1, sinh ngày 24/6/2006; tại: P, Kiên Giang; Nơi cư trú: khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Thành Đ; Con bà: Danh Thị Như T4; Vợ; Con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không. Nhưng về nhân thân đã bị Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 16/5/2024; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 07/10/2023 được cho bảo lĩnh tại ngoại. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam C4, tỉnh Cà Mau. Có đơn xét xử vắng mặt.

6. Nguyễn Phi V (tên gọi khác: Vũ C), sinh ngày 10/02/1987; tại: P, Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp C, xã C, thành phố P, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn C1 (Đã chết); Con bà: Phan Thị T5; Vợ: Võ Thị H1, sinh năm 1991; Con: có 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 27/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 04 năm 6 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (theo Bản án số 34/2019/HS-ST), chấp hành xong ngày 18/5/2022, chưa được xóa án tích; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Thái Q, Dương Minh D1, Nguyễn Gia L2, Trịnh Gia T1: Ông Huỳnh Ngọc T6 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T9 – Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phi V: Luật sư Nguyễn Ngọc H2 – Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lý Thái Q: Ông Lý T, sinh năm 1972 và bà Lê Thị M, sinh năm 1979. Địa chỉ: khu phố D, phường D, thành phố P, Kiên Giang. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Dương Minh D1: ông Dương Thành Đ, sinh năm 1976 và Danh Thị Như T4, sinh năm 1978. Địa chỉ: khu phố D, phường D, thành phố P, Kiên Giang. Có mặt.

- Người có quyền lợi liên quan: Nguyễn Trọng V1 (tên gọi khác: Vũ B), sinh ngày 19/5/1987. Địa chỉ: ấp C, xã C, thành phố P, Kiên Giang. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam B2, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10/02/2023, Nguyễn Tấn T7 (thường gọi là Cá C2) là người làm thuê ở vựa thu mua phế liệu Phi V do Nguyễn Phi V (thường gọi là Vũ Công) làm chủ tại ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang bị một số thanh, thiếu niên ở phường D, thành phố P (thường gọi là nhóm Chợ G) dùng dao tự chế chém gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% tại cửa hàng dịch vụ Internet H ấp C, xã C. Đến ngày 17/4/2023, T7 cùng với một số thanh, thiếu niên ở xã C, thành phố P (thường gọi là nhóm N) đã trả thù, dùng cây gỗ đánh Nguyễn Thành D2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 42% tại quán nước vỉa hè trên đường N thuộc khu phố H, phường D.

Do nghi ngờ vụ việc là do Nguyễn Phi V (là người có tiền án, tiền sự trong nhóm N) chỉ đạo nên vào khoảng 21 giờ, ngày 18/4/2023, Lý Quốc D3 (thường gọi là Dương Bà Bé), Lý Thái Q (sinh ngày 25/9/2006, tại thời điểm này 16 tuổi 6 tháng 24 ngày), Dương Minh D1 (sinh ngày 24/6/2006, tại thời điểm này 16 tuổi 9 tháng 25 ngày), Trịnh Gia T1 (thường gọi là Trọng Miên, sinh ngày 17/5/2005, tại thời điểm này 17 tuổi 11 tháng 01 ngày), Lê Công H (thường gọi là Hậu C3), Nguyễn Gia L2 (sinh ngày 27/5/2005, tại thời điểm này 17 tuổi 10 tháng 22 ngày), Nguyễn Đông P (sinh ngày 22/11/2007, tại thời điểm này 15 tuổi 4 tháng 27 ngày), Triệu Thanh S (thường gọi là B1, sinh ngày 31/01/2008, tại thời điểm này 15 tuổi 02 tháng 18 ngày) là bạn của D2, thuộc nhóm Chợ G đã tự bàn bạc rủ nhau tìm kiếm, chuẩn bị hung khí gồm dao và vỏ chai bia bằng thủy tinh để đi xuống khu vực ấp C, xã C tìm nhóm N để trả thù cho D2, tất cả đều đồng ý. Khi đi, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen, không rõ biển kiểm soát của D3 chở D3; S điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Sh Mode, màu đỏ – đen, mang biển kiểm soát 68P1-332.19 chở L2; D1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, không rõ biển kiểm soát (mượn của P1, không rõ nhân thân) chở P; H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh – đen – bạc, mang biển kiểm soát 68P1-650.33 chở T1; D3, L2, Q mang theo mỗi người 01 cây dao, loại dao phảng có lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài khoảng 60 cm, P mang theo 01 cây dao, loại dao cánh bướm dài khoảng 50 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ; H, T1 mang theo 04 vỏ chai bia bằng thủy tinh làm hung khí. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, khi đến khu vực đường tuyến tránh thuộc Tổ I, ấp C, xã C thì nhóm của Q phát hiện nhiều người thuộc nhóm Nông T8 đang ngồi ăn uống tại quán B3 (quán cháo má heo) nên nhóm của Q dừng xe trước quán, Dương cầm dao chạy vào quán chém 01 nhát trúng vào tay của Nguyễn Trọng V1 (thường gọi là Vũ B) gây thương tích vùng tay trái; L2, P cầm dao chạy đến đứng ở phía trước quán khua qua khua lại không cho nhóm Nông T8 lao ra ngoài; H, T1 chạy đến đứng tại vị trí lề đường dùng vỏ chai bia thủy tinh ném về phía nhóm N. Cùng lúc này, Nguyễn Phi V dùng ghế nhựa ném lại nên D3, L2, P, H, T1 bỏ chạy ra xe nơi đồng bọn là D1, Q, S đứng chờ sẵn trên đường tuyến tránh để bỏ trốn, Nguyễn Phi V cùng khoảng 05 – 06 người trong nhóm Nông T8 (chưa rõ nhân thân) tiếp tục nhặt gạch đuổi theo, la hét, nhưng không kịp nên tất cả bỏ về, còn Nguyễn Trọng V1 được đi cấp cứu, điều trị thương tích. Hành vi nêu trên của Nguyễn Phi V, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Lê Công H, Lý Thái Q, Dương Minh D1 đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực đường tuyến tránh thuộc Tổ I, ấp C, xã C là nơi công cộng, có đông dân cư và phương tiện giao thông, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân địa phương. Đến ngày 30/6/2023, Nguyễn Phi V, Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1 lần lượt bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 cây dao tự chế, cán gỗ, dài 64 cm, lưỡi dao dài 46 cm, nơi rộng nhất 5,5 cm, trên dao có 08 rãnh răng cưa, kèm theo 01 vỏ dựng dao bằng vải màu đen. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã chuyển cho Công an xã C xử lý vi phạm hành chính.
  • - 02 USB, nhãn hiệu SanDisk, dung lượng 16GB, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có chứa dữ liệu là video trích xuất từ camera an ninh ghi lại diễn biến liên quan đến vụ án (đã lưu hồ sơ vụ án).
  • - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh – đen – bạc, số máy JA39E1535265, số khung 3914LY197386, mang biển kiểm soát 68P1-650.33, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho chủ sở hữu.
  • - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Sh Mode, màu đỏ – đen, số máy JF51E035591, số khung 5116FY218123, mang biển kiểm soát 68P1-332.19, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho chủ sở hữu.
  • - Riêng đối với số hung khí gồm dao, vỏ chai bia, ghế, gạch... mà các bị can đã sử dụng để gây rối trật tự công cộng trong vụ án, do các bị can đã cất giấu, ném bỏ, không rõ ở đâu hoặc đã bị hư hỏng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P không thu hồi được.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 751, ngày 29/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh K đối với Nguyễn Trọng V1, kết luận:

  1. Các kết quả chính: Sẹo phần mềm cẳng tay trái.
  2. Kết luận:
    1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trọng V1 tại thời điểm giám định là: 03%.
    2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc gây nên.
    3. Về cơ chế hình thành thương tích: Thương tích ở cẳng tay trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu của cơ thể.

* Tại Bản kết luận giám định dữ liệu điện tử số 159, ngày 26/02/2024 của Phòng K1 – Công an tỉnh K, kết luận:

  • - Không phát hiện có dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung 02 tập tin video gửi giám định.
  • - Đã trích xuất 56 tập tin hình ảnh trong 02 tập tin video giám định, chi tiết trong bản Phụ lục kèm theo.
  • - 02 tập tin video giám định không có nội dung âm thanh.

* Về phần dân sự: Nguyễn Trọng V1 không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Bản cáo trạng số 106/CT-VKSPQ, ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1, Nguyễn Phi V về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Đối với việc Nguyễn Trọng V1 bị Lý Quốc D3 dùng dao chém gây thương tích 03% nhưng do Nguyễn Trọng V1 không yêu cầu khởi tố vụ án nên không xem xét, giải quyết đối với hành vi phạm tội: “Cố ý gây thương tích” trong vụ án này.

Đối với Lý Quốc D3 cùng một số đối tượng khác bên nhóm Nông T8 chưa rõ nhân thân có liên quan trong vụ án, nhưng hiện nay chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã tách vụ án hình sự và khởi tố, truy nã theo quy định pháp luật.

Đối với việc Nguyễn Đông P, Triệu Thanh S có tham gia gây rối trật tự công cộng trong vụ án nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã chuyển hồ sơ để xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với việc Nguyễn Tấn T7 bị chém gây thương tích 04% vào ngày 10/02/2023 tại ấp C, xã C và việc Nguyễn Thành D2 bị đánh gây thương tích 42% vào ngày 17/4/2023 tại khu phố H, phường D, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã khởi tố 01 vụ án về tội: “Giết người” và 01 vụ án về tội: “Cố ý gây thương tích” để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Về hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Công H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Thái Q từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56, 104 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoàn 1 Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Gia T1 từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Gia L2 từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Dương Minh D1 từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56, 104 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án.

- Đối với Nguyễn Phi V thì hành vi của bị cáo phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Do đó căn cứ Điều 319, 321 Bộ luật tố tụng hình sự kết luận và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phi V 15 tháng 25 ngày tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo.

- Về phần dân sự: Nguyễn Trọng V1 không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Lý Thái Q, Dương Minh D1 có ý kiến: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo T1, L2, Q, D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thật thà khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học thức thấp; khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi. Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phi V có ý kiến: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc xác định bị cáo V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Đề nghị áp dụng điểm c, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo bằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1 cùng chung một nhóm. Trong đó bị cáo Lý Thái Q là người có vai trò chính, bị cáo Q là người kêu gọi, tập hợp các bị cáo khác trong nhóm lại chuẩn bị hung khí gồm dao và vỏ chai bia để đi tìm nhóm của Nguyễn Phi V đánh trả thù. Khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng các bị cáo đã sử dụng hung khí là dao và vỏ chai bia để đánh nhóm của Nguyễn Phi V. Hành vi của các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Phi V khi thấy nhóm của bị cáo Lý Thái Q sử dụng hung khí tấn công nhóm của V thì V đã liên tục sử dụng 03 cái ghế nhựa ném và rượt đuổi theo nhóm của Lý Thái Q cho đến khi nhóm của Q bỏ chạy. Hành vi chống trả của Nguyễn Phi V rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Tại phiên toà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; gây hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống trong khu vực. Hành vi của các bị cáo cần có mức hình phạt thật nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Riêng các bị cáo Lý Thái Q là người có vai trò chính nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Phi V có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nên bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Công H, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Lý Thái Q, Dương Minh D1 có tình tiết tăng nặng là phạm tội có tính chất côn đồ theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ là thật thà khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Lý Thái Q, Dương Minh D1 khi phạm tội dưới 18 tuổi nên được áp dụng quy định tại Điều 91 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Phi V phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đề nghị áp dụng cho các bị cáo Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1, Nguyễn Phi V là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6]. Về quan điểm của người bào chữa: Xét quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1, Nguyễn Phi V là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Do Nguyễn Trọng V1 không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án, nên không xem xét.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1, Nguyễn Phi V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lê Công H 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/6/2023).

3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101, khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lý Thái Q 02 (H3) năm tù. Tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2024/HS-ST ngày 08/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo Lý Thái Q chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2024; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 07/10/2023.

4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trịnh Gia T1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/6/2023).

5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Gia L2 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/6/2023).

6. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; khoản 1 Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Dương Minh D1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo Dương Minh D1 chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/11/2023; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến ngày 07/10/2023.

7. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm c, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Phi V 15 (Mười lăm) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/6/2023).

Do thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam. Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Phi V, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

8. Về án phí: Các bị cáo Lê Công H, Lý Thái Q, Trịnh Gia T1, Nguyễn Gia L2, Dương Minh D1, Nguyễn Phi V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai; báo cho các bị cáo, người đại diện theo pháp luật biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp Kiên Giang;
  • - VKS thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THA Dân sự;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Võ Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HSST ngày 16/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về gây rối trật tự công cộng (điều 318 bộ luật hình sự)

  • Số bản án: 165/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Điều 318 Bộ luật Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LE CONG HAU VA DONG PHAM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger