Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HS-ST

Ngày: 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoà
  2. Ông Long Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng với điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16/4/1986 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Ngọc P (đã chết); Con bà: Nông Thị N (đã chết); Vợ: Hoàng Thị Hằng N1; sinh năm 1991, trú tại: tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020. Anh chị em ruột: bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/10/2006 Tòa án nhân tỉnh Cao Bằng xử phạt 04 năm tù về Tội cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 09/4/2024 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/8/1959 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/10; Con ông: Nguyễn Minh Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Phạm Thị T1; sinh năm 1966, trú tại: tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con sinh năm 1989. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 09/4/2024 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Đàm Lệ H – sinh năm 1976;

Địa chỉ: Tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt có lý do tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chu Thị R – sinh năm 1993;

Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt có lý do tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 07/4/2024, Nguyễn Ngọc L (sinh ngày: 16/4/1986; Trú tại: tổ H, phường T, thành phố C) gọi điện thoại cho Nguyễn Ngọc L1 (sinh ngày: 15/8/1959; Trú tại: tổ A, phường S, thành phố C) trao đổi về việc sáng ngày 08/4/2024 nhà xe C1 (nơi L làm lái xe) có đồ gửi từ thành phố C đi huyện B, tỉnh Cao Bằng, tài sản này được gói trong hộp giấy, bên ngoài là túi nilon màu đen, được đặt ở vị trí chỗ để chân của ghế phụ phía đầu xe ô tô đỗ ở trong Bến xe khách liên tỉnh thành phố Cao Bằng, L rủ L1 cùng đi lấy trộm gói hàng trên vào rạng sáng ngày 08/4/2024. L1 đồng ý. Khoảng 04 giờ ngày 08/4/2024, L1 mang theo 01 (một) túi xách đeo chéo màu đen để đựng đồ trộm cắp rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F8-5329 đi từ nhà riêng tại tổ A, phường S, thành phố C đến nhà L tại tổ H, phường T, thành phố C. Sau đó, L điều khiển mô tô biển kiểm soát 20F1-1167, L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F8-5329 cùng đi vào đường V hướng về Bến xe khách liên tỉnh thành phố C. Trên đường đi, cả hai điều khiển xe mô tô rẽ vào đường nối giữa đường V với đường Q cũ để L cất giấu xe mô tô biển kiểm soát 20F1-1167 ở ven đường. Tại đây, L mặc một chiếc áo mưa màu xanh đen rồi đưa cho L1 02 (hai) chiếc găng tay bằng vải thun màu ghi xám để L1 sử dụng khi trộm cắp tài sản. Tiếp đó, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F8-5329 chở L1 đến B xe khách liên tỉnh. Khi đến bến xe, L chờ ở phía ngoài, L1 đi bộ vào trong bến xe và lên xe ô tô biển kiểm soát 11F-000.19 của nhà xe C1 ngồi khoảng 5 đến 7 phút để quan sát. Khi thấy trên xe và xung quanh không có người, L1 trèo lên khoảng trống giữa ghế lái và ghế phụ rồi dùng tay phải thò vào gầm ghế phụ lấy bọc nilong màu đen của Đàm Lệ H gửi nhà xe cho vào túi xách của L1 mang theo từ trước. Sau khi lấy trộm được gói hàng, L1 đi về hướng cổng phụ bến xe rồi gọi điện thoại bảo L đến đón. L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F8-5329 đến đón L1 rồi quay lại địa điểm cất giấu xe mô tô biển kiểm soát 20F1-1167 của L. Tại đây, L bảo L1 đem gói hàng vừa lấy trộm được về nhà L1 cất giấu, còn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20F1-1167 đi về hướng huyện N, tỉnh Cao Bằng để chờ xe khách Cường Mạnh, rồi lái xe đi về huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Ngày 08/4/2024, Công an thành phố C nhận được đơn trình báo của Nông Tuấn C (Sinh ngày: 16/11/1969; Trú tại: Tổ A phường N, thành phố C) với nội dung: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 08/4/2024, con dâu của CChu Thị R (Sinh ngày: 18/9/1993; Trú tại: tổ A, phường N, thành phố C) là quản lý nhà xe Cường Mạnh chạy tuyến thành phố C - B gọi điện thoại báo gói hàng bên trong chứa tiền của khách gửi nhà xe bị mất nên C có đơn trình báo đề nghị Cơ quan Công an giải quyết.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành làm việc với chủ gói hàng bị mất là Đàm Lệ H (Sinh ngày: 21/11/1976; trú tại: Tổ B phường S, thành phố C) xác định được bên trong gói hàng chứa số tiền: 477.250.000đ (bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Cơ quan điều tra xác minh, xác định được 02 đối tượng đã lấy trộm gói hàng là Nguyễn Ngọc LNguyễn Ngọc L1.

Hồi 21 giờ 05 phút ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc L1 tại tổ A, phường S, thành phố C. Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nilong màu đen bên trong đựng 01 (một) hộp giấy bìa cattong quấn băng dính ở phía cuối giường ngủ của L1, do L1 tự giác giao nộp. Tạm giữ của L1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 11F8-5329 cùng một số đồ vật, tài sản quần áo, mũ, giày, túi xách.

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành mở niêm phong túi nilong màu đen đã thu giữ của Nguyễn Ngọc L1. Qua kiểm tra xác định bên trong túi nilong là 01 (một) hộp bìa cattong, bên trong hộp bìa cattong có 01 (một) túi nilong màu đen chứa số tiền: 477.250.000đ (bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cáo trạng số: 142/CT-VKSTP ngày 06/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc thừa N2 hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo khai nhận: Do bị cáo L là lái xe thuê cho nhà xe C1, khi biết nhà xe nhận vận chuyển 01 gói hàng của Đàm Lệ H bên trong chứa số tiền 477.250.000đ (bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) vào huyện B để đưa cho bà Toán Thị N3. Bị cáo L đã rủ bị cáo L1 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và các bị cáo đã chiếm đoạt được số tiền trên và cất giấu tại nhà L1. Các bị cáo không có ý kiến gì với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện. Đối với các vật chứng, tài sản tạm giữ các bị cáo không có ý kiến gì.

Bị hại Đàm Lệ H vắng mặt tại phiên tòa, tại đơn xin xét xử vắng mặt bà H xác nhận đã nhận lại đủ số tiền 477.250.000đ (bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị R: tại đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, có yêu cầu được trả lại 01 (một) camera hành trình nhãn hiệu CARFU, màu đen, Model: V8; bên trong có gắn một thẻ nhớ màu đỏ, bạc, đen nhãn hiệu Sandick Ultra, dung lượng 32 GB, đã qua sử dụng. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Ngọc L1 từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ:

  • 01 (một) hộp bìa catton và 02 (hai) túi nilong màu đen;
  • 01 (một) bộ quần áo mưa (gồm có một chiếc áo và một chiếc quần) chất liệu vải nilon màu đen, xanh. Bộ quần, áo mưa đã qua sử dụng;
  • 01 (một) túi vải màu đen dạng tay xách và có dây đeo, mặt trước túi có dòng chữ "Toshiba";
  • 01 (một) áo khoác nam màu nâu, phần bên trong cổ áo có chữ "HILZ" và chữ nước ngoài;
  • 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ ca rô màu đen trăng, phần bên trong cổ áo có chữ "FC 1991";
  • 01 (một) quần dài vải màu xanh rêu;
  • 01 (một) mũ cối màu xanh rêu;
  • 01 (một) đôi giầy da màu đen;

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước phương tiện, công cụ mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Win màu đen, biến kiểm soát 20F1-1167; số khung MH1HA000SSK176683; số máy HAE2276385, xe cũ đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 128GB, số IMEI 359215075002213, có gắn sim điện thoại số 0814.478.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biến kiểm soát 11F8- 5329; số khung 102159; số máy 102159, xe cũ đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu đen có số IMEII: 357332560193282; số IMEI2: 357332560688281, có gắn sim điện thoại số 0837.568.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

Trả lại cho bà Chu Thị R: 01 (một) camera hành trình nhãn hiệu CARFU, màu đen, Model: V8; bên trong có gắn một thẻ nhớ màu đỏ, bạc, đen nhãn hiệu Sandick Ultra, dung lượng 32 GB, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định pháp luật.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo, lời khai của bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 07/4/2024, Nguyễn Ngọc L rủ Nguyễn Ngọc L1 đến Bến xe khách liên tỉnh thành phố Cao Bằng thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C lấy trộm gói hàng của khách gửi trên xe khách Cường Mạnh. Sau khi trao đổi và thống nhất, khoảng 04 giờ ngày 08/4/2024, LL1 đến Bến xe khách liên tỉnh thành phố Cao Bằng. L dừng xe mô tô đợi ở ngoài cổng bến, L1 đi vào trong bến xe và lên xe ô tô khách biển kiểm soát 11F-000.19 của nhà xe Cường M lấy trộm gói hàng của Đàm Lệ H gửi đi B, bên trong gói hàng chứa số tiền: 477.250.000đ (bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi lấy trộm được tài sản, L1 gọi L đến đón rồi đem gói hàng về nhà riêng của L1 cất giấu.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 477.250.000đ (bốn trăm bẩy mươi bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Ngọc L là người có nhân thân xấu. Ngày 30/10/2006, Tòa án nhân tỉnh Cao Bằng xử phạt 04 năm tù về Tội cố ý gây thương tích. Mặc dù đã được cải tạo giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại Đàm Lệ H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo Nguyễn Ngọc L1 là người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Các bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn liều lĩnh, công khai thực hiện. Điều này cho thấy các bị cáo có ý thức coi thường pháp luật nên cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo sớm trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này bị cáo L là người chủ mưu, rủ rê bị cáo L1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo L1 là người giúp sức tích cực và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội tự phát, không có sự bàn bạc, phân công công việc từ trước do đó, hành vi các bị cáo đồng phạm giản đơn, không phải phạm tội có tổ chức. Xét thấy, bị cáo L là người có nhân thân xấu, là người chủ mưu và thực hiện hành vi phạm tội tại chính nhà xe nơi bị cáo lái thuê nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo L1.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ gồm: 01 (một) hộp bìa catton và 02 (hai) túi nilong màu đen. Đây là đồ dùng để bọc tài sản bị chiếm đoạt, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với: 01 (một) bộ quần áo mưa (gồm có một chiếc áo và một chiếc quần) chất liệu vải nilon màu đen, xanh. Bộ quần, áo mưa đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen dạng tay xách và có dây đeo, mặt trước túi có dòng chữ "Toshiba"; 01 (một) áo khoác nam màu nâu, phần bên trong cổ áo có chữ "HILZ" và chữ nước ngoài; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ ca rô màu đen trăng, phần bên trong cổ áo có chữ "FC 1991"; 01 (một) quần dài vải màu xanh rêu; 01 (một) mũ cối màu xanh rêu; 01 (một) đôi giầy da màu đen;. Đây là tài sản của các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Win màu đen, biến kiểm soát 20F1- 1167; số khung MH1HA000SSK176683; số máy HAE2276385, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 128GB, số IMEI 359215075002213, có gắn sim điện thoại số 0814.478.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biến kiểm soát 11F8- 5329; số khung 102159; số máy 102159, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu đen có số IMEII: 357332560193282; số IMEI2: 357332560688281, có gắn sim điện thoại số 0837.568.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) camera hành trình nhãn hiệu CARFU, màu đen, Model: V8; bên trong có gắn một thẻ nhớ màu đỏ, bạc, đen nhãn hiệu Sandick Ultra, dung lượng 32 GB, đã qua sử dụng. Đây là tài sản thuộc sở hữu của bà Chu Thị R do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bà Chu Thị R.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 là người cao tuổi, không có đơn xin miễn án phí và không có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9]. Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc L 09 năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc L1 08 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đàm Lệ H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chu Thị R không có yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp bìa catton và 02 (hai) túi nilong màu đen; 01 (một) bộ quần áo mưa (gồm có một chiếc áo và một chiếc quần) chất liệu vải nilon màu đen, xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen dạng tay xách và có dây đeo, mặt trước túi có dòng chữ "Toshiba"; 01 (một) áo khoác nam màu nâu, phần bên trong cổ áo có chữ "HJLZ" và chữ nước ngoài; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ ca rô màu đen trắng, phần bên trong cổ áo có chữ "FC 1991"; 01 (một) quần dài vải màu xanh rêu; 01 (một) mũ cối màu xanh rêu; 01 (một) đôi giầy da màu đen;

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Win màu đen, biến kiểm soát 20F1-1167; số khung MH1HA000SSK176683; số máy HAE2276385. Qua kiểm tra thực tế khi nhận: xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 23/4/2024 của Công an thành phố C cung cấp (xe không có chìa khoá);
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 128GB; số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 359215075002213, có gắn sim điện thoại số 0814.478.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen biến kiểm soát 11F8- 5329; số khung 102159; số máy 102159. Qua kiểm tra thực tế khi nhận: xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị gan gỉ. Xe có số máy 5C61102159 trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 23/4/2024 của Công an thành phố C cung cấp, số khung do không có chìa khoá xe nên không cà thực tế được. Theo Phiếu trả lời xác minh xe thì màu sơn của xe là màu xanh, nhưng khi nhận thực tế xe có màu đỏ đen (Xe không có chìa khoá kèm theo);
  • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu đen có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng) IMEI1: 357332560193282; số IMEI2: 357332560688281, có gắn sim điện thoại số 0837.568.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng, pin đã bị phồng;

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chu Thị R: 01 (một) camera hành trình nhãn hiệu CARFU, màu đen, Model: V8; bên trong có gắn một thẻ nhớ màu đỏ, bạc, đen nhãn hiệu Sandick Ultra, dung lượng 32 GB, đã qua sử dụng.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 170 ngày 18/9/2024.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Băng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 165/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc L và đồng bọn phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger