Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 165/2024/DS-ST

Ngày: 17-09-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Thúy Hảo

2. Ông Nguyễn Anh Đắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 188/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2024/QĐST – DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
  2. Địa chỉ: 2 N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật; Bà Lê Thị Phương T, chức vụ Chuyên viên Kiểm soát rủi ro Chi nhánh B – Ngân hàng TMCP S là đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2024). (vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Trần Minh G, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 140/15/9 L, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/03/2024 và các lần làm việc tại Tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Căn cứ Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 19/8/2021 được ký kết giữa ông Trần Minh G và Ngân hàng TMCP S thì Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông G với hạn mức 30.000.000 đồng.

Chi tiết khoản vay tín chấp thẻ tín dụng của ông Trần Minh G như sau:

  • + Số thẻ: 472074-7877
  • + Số tiền giao dịch: 131.126.603 đồng
  • + Lãi phí : 13.491.115 đồng
  • + Thanh toán : 111.521.024 đồng
  • + Dư nợ: 33.096.694 đồng

Tổng dự nợ các khoản vay thẻ nêu trên đến ngày 15/03/2024: 33.096.694 đồng (Bằng chữ: Ba mươi ba triệu không trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm chín mươi tư đồng).

Tổng số tiền nợ trên chưa tính lãi, phí phát sinh sau ngày 15/03/2024 cho đến khi ông Trần Minh G hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ mời ông Trần Minh G đến Ngân hàng làm việc nhưng ông Trần Minh G luôn cố tình trốn tránh, không hợp tác với Ngân hàng trong quá trình trả nợ. Ngân hàng cũng tạo mọi điều kiện cho Trần Minh G thực hiện nghĩa vụ như Hợp đồng tín dụng đã ký nhưng ông Trần Minh G cũng không thực hiện đúng cam kết với Ngân hàng.

Nay do ông Trần Minh G đã vi phạm Hợp đồng tín dụng không thực hiện đúng theo các biên bản đã ký, cố tình chây ì không trả nợ nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Trần Minh G:

  • + Buộc ông Trần Minh G hoàn trả số tiền dư nợ thẻ đến ngày 17/9/2024 là: 42.430.601 đồng, trong đó nợ gốc là 36.006.788 đồng và nợ lãi là 6.423.813 đồng.
  • + Buộc ông Trần Minh G tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ lãi, phí phát sinh sau ngày 17/9/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi ông Trần Minh G hoàn tất nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.

Bị đơn – ông Trần Minh G đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu cho rằng:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngân hàng S khởi kiện ông Trần Minh G về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ văn bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tại Công an Phường T, thành phố V thì ông G có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ 1 L, Phường T, thành phố V, nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, không xác định được nơi ở hiện nay. Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông G theo địa chỉ đăng ký thường trú được ghi trong Hợp đồng tín dụng nên được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bị kiện”. Trong vụ án này, ông G thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng mà không thông báo cho ngân hàng biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định nên được coi là cố tình giấu địa chỉ nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ, đúng pháp luật, xác định địa chỉ của ông G là 1 L, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa thì thấy: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết giấy báo hợp lệ yêu cầu đến Tòa để giải quyết vụ án, hòa giải, xét xử, tuy nhiên vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, bị đơn không có yêu cầu phản tố; do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Trần Minh G phải thanh toán số tiền 42.430.601 đồng, trong đó nợ gốc là 36.006.788 đồng và nợ lãi là 6.423.813 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trên cơ sở đơn yêu cầu phát hành thẻ tín dụng do ông G ký ngày 19/8/2021 thì Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng số 472074-7877 với tổng hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng cho ông G; lãi suất cho vay được áp dụng là 2,766%/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng đã ký phù hợp với các quy định tại các Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự và phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết.

Theo bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thì tổng số tiền ông G đã sử dụng là 131.126.603 đồng. Tính đến ngày 15/3/2024, ông G đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 111.521.024 đồng. Từ ngày 15/3/2024, ông G không trả thêm được khoản tiền nào cho Ngân hàng. Tính đến ngày 17/9/2024, số tiền gốc ông G có nợ là 36.006.788 đồng và căn cứ quy định tại Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng thì toàn bộ dư nợ này được chuyển thành nợ gốc và chuyển sang nợ quá hạn. Do đó, số tiền gốc ông G còn nợ Ngân hàng là 36.006.788 đồng và số tiền lãi còn nợ là 6.423.813 đồng. Vì vậy, tổng số tiền ông G còn nợ Ngân hàng là 42.430.601 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và triệu tập bị đơn đến làm việc liên quan đến việc ký kết hợp đồng và thanh toán nợ tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong vụ án để giải quyết. Như vậy, có căn cứ xác định ông G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mình. Nay Ngân hàng yêu cầu ông G phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 42.430.601 đồng, trong đó nợ gốc là 36.006.788 đồng và nợ lãi là 6.423.813 đồng là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Trần Minh G; buộc ông G phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 42.430.601 đồng, trong đó nợ gốc là 36.006.788 đồng và nợ lãi là 6.423.813 đồng.

[2.2] Đối với yêu cầu buộc ông G phải trả khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 18/9/2024 đến khi thanh toán hết nợ:

Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17-10-2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ông G phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Trần Minh G.
  2. Buộc ông Trần Minh G phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 42.430.601 đồng, trong đó nợ gốc là 36.006.788 đồng và nợ lãi là 6.423.813 đồng.

    Kể từ ngày 18/9/2024, ông G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Ông Trần Minh G phải nộp 2.121.000 đồng.

    H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 800.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005826 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - VKSND TP Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS TP Vũng Tàu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hồng Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 165/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger