Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/9/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

và chia tài sản chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Chiểu
  2. Bà Võ Tuyết Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ngọc Q, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Huỳnh Thị Ngọc Q: Luật sư Lư Trường L – Chi nhánh Công ty L1 Tạ Nguyệt T tại huyện P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (Vắng mặt)

  1. Bị đơn: Anh Văn Công N, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 3.1. Bà Nguyễn Thị Lệ H; Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  • 3.2. Anh Trịnh Công B, sinh năm 1988 và chị Lê Thị T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
  • 3.3. Chị Văn Thị Mộng Q1, sinh năm 1999; Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc Q trình bày:

Về hôn nhân: Chị Q và anh N sống chung vào năm 1997, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Q yêu cầu ly hôn anh N.

Về con chung: Trong thời gian sống chung chị Q và anh N có bốn người con chung tên Văn Thị Mộng Q1, sinh năm 1999, Văn Thị Mộng Q2, sinh năm 2001, Văn Thị Kim H1, sinh năm 2003 và Văn Công T2, sinh ngày 12/5/2008. Đối với ba người con lớn đã thành niên nên chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị Q yêu cầu nuôi con chung tên Văn Công T2, sinh ngày 12/5/2008 và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2 với mức cấp dưỡng 7.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, ngày 26/7/2024, chị Q nộp đơn xin rút yêu cầu cấp dưỡng, chị Q xác định đảm bảo điều kiện kinh tế để nuôi con nên không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Q yêu cầu chia đôi các phần đất phần đất có tổng diện tích 37.612,1m² (trong đó có 300m² đất ở; 300,4m² đất trồng cây lâu năm; 37.011,7m² đất trồng lúa) có tổng giá trị tạm tính 2.687.000.000 đồng. Ngoài ra, chị Q yêu cầu chia đôi 04 xe máy và 01 xe tải có giá trị tạm tính 120.000.000 đồng. Chị Q yêu cầu tuyên bố giao dịch cầm cố nhà đất thể hiện tại “Giấy hợp đồng” đề ngày 07/12/2022 được xác lập giữa vợ chồng anh Trịnh Công B, chị Lê Thị T1 với chị Q và anh N vô hiệu. Buộc anh Trịnh Công B, chị Lê Thị Thanh T3 cho vợ chồng chị số tiền 300.000.000 đồng để vợ chồng chị chia đôi. Chị Q yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Lệ H trả cho chị Q và anh N số tiền vay gốc 100.000.000 đồng để vợ chồng chị chia đôi.

Về nợ chung: Chị Q yêu cầu chia đôi số tiền 62.000.000 đồng mà anh N, chị Q còn nợ chị Văn Thị Mộng Q1.

Tuy nhiên, ngày 25/7/2024 chị Q có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung.

* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Văn Công N trình bày: Anh không đồng ý ly hôn với chị Q, nên không đồng ý chia tài sản chung. Tuy nhiên, ngày 07/9/2024 anh N có văn bản thể hiện ý kiến, anh đồng ý ly hôn với chị Q, đồng ý giao con chung là Văn Công T2 cho chị Q tiếp tục nuôi, không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Văn Thị Mộng Q1 có văn bản thể hiện ý kiến trình bày: Chị không yêu cầu chị Q và anh N trả nợ cho chị trong vụ án này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Lệ H, anh Trịnh Công B, chị Lê Thị Thanh T4 quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà H, anh B, chị T2 vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lư Trường L trình bày quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q, không công nhận chị Q và anh N là vợ chồng, giao con chung là Văn Công T2, sinh ngày 12/5/2008 cho chị Q tiếp tục nuôi. Quá trình tố tụng, chị Q đã có đơn yêu cầu rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu T2 và toàn bộ yêu cầu về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Anh N đồng ý việc chị Q rút yêu cầu về phần tài sản. Chị Q1 cũng có đơn không yêu cầu buộc chị Q, anh N trả số tiền nợ 62.000.000 đồng trong cùng vụ án này. Do đó, đề nghị HĐXX đình chỉ giải quyết phần tài sản chung do chị Q rút yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận chị Q và anh N là vợ chồng.

+ Về con chung: Giao cháu Văn Công T2, sinh ngày 12/5/2008 cho chị Q chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị Q yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2, với số tiền là 7.000.000/tháng cho đến khi cháu T2 tròn 18 tuổi.

Ngày 26/7/2024, chị Q có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2. Việc chị Q rút yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2 là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu T2 của chị Q.

+ Về tài sản chung: Ngày 26/7/2024, chị Q có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu về tài sản chung, chị Q không giải quyết tài sản chung giữa chị Q với anh N. Việc chị Q rút yêu cầu khởi kiện đối với tài sản chung giữa chị Q với anh N là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị Q.

+ Về nợ chung: Đối với số nợ 62.000.000 đồng, chị Q, anh N nợ chị Q1. Chị Q1 không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Chị Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh N, anh N đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Bà H, anh B, bà T2, chị Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Q và anh N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt chị Q, anh N, bà H, anh B, chị T2, chị Q1 là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Xét thấy chị Q và anh N có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nhưng chị Q và anh N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 và đã có bốn người con chung mà không đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa chị Q và anh N là không hợp pháp, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Nay chị Q yêu cầu ly hôn, căn cứ theo khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Q và anh N.

[4] Về con chung: Chị Q và anh N có 04 người con chung là Văn Thị Mộng Q1, sinh năm 1999, Văn Thị Mộng Q2, sinh năm 2001, Văn Thị Kim H1, sinh năm 2003 và Văn Công T2, sinh ngày 12/5/2008. Cháu Q1, cháu Q2, cháu H1 đã thành niên, nên chị Q không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị Q yêu cầu tiếp tục nuôi con chung Văn Công T2, anh N có ý kiến đồng ý giao cháu T2 cho chị Q tiếp tục nuôi. Xét thấy, từ khi chị Q và anh N ly thân đến nay, chị Q là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2. Mặc khác, tại biên bản lấy ý kiến ngày 24/7/2024 cháu T2 có nguyện vọng sống cùng với chị Q. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T2, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q: Giao cháu T2, sinh ngày 12/5/2008 cho chị Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng: Khi khởi kiện chị Q yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2 với mức 7.000.000 đồng/tháng. Ngày 26/7/2024, chị Q có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2. Việc chị Q rút yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T2 là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu T2 của chị Q.

[6] Về tài sản chung: Ngày 26/7/2024, chị Q có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu về tài sản chung, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung giữa chị Q với anh N. Anh N đồng ý việc chị Q rút yêu cầu chia tài sản chung. Xét thấy việc chị Q rút yêu cầu khởi kiện đối với tài sản chung là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị Q. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại phần tài sản chung theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Về nợ chung: Đối với số nợ 62.000.000 đồng, chị Q và anh N nợ chị Q1. Chị Q1 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại bằng một vụ án độc lập khác.

[8] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Chấp nhận quan điểm trình bày của luật sư bảo vệ của chị Q.

[9] Về chi phí tố tụng: Chị Q phải chịu theo quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 217, 218, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 14, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Thị Ngọc Q và anh Văn Công N là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cháu Văn Công T2, sinh ngày 12/5/2008 cho chị Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Đình chỉ giải quyết do chị Q rút yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết do chị Q rút yêu cầu chia tài sản chung.

Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại phần tài sản chung theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Về nợ chung: Do chị Văn Thị Mộng Q1 không yêu cầu chị Q và anh N trả nợ trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại bằng một vụ án độc lập khác.
  2. Về chi phí tố tụng: Chị Huỳnh Thị Ngọc Q phải chịu số tiền 3.905.911 đồng. Chị Q đã dự nộp tạm ứng chi phí tố tụng số tiền 40.000.000 đồng theo phiếu thu 92/2024/T-TĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, được chuyển qua thu chi phí tố tụng số tiền 3.905.911 đồng; nay các đương sự không phải nộp thêm. Chị Q đã được hoàn nhận lại đủ số tiền 36.094.089 đồng.
  3. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị Q đã dự nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006637 ngày 21/02/2024 và số tiền 31.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006695 ngày 08/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu án phí 300.000 đồng. Chị Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 31.500.000 đồng.

Các đương sự khác không phải chịu án phí.

  1. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản án theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HNGĐ-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung

  • Số bản án: 165/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger