TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2024/HS-ST.
Ngày: 10/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Phạm Văn Huynh.
- + Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến: Điểm cầu Trung tâm: Phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành gồm Thành phần Hội đồng xét xử và bị hại. Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ công an huyện L gồm bị cáo và Cảnh sát bảo vệ tư pháp đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Quang V, sinh năm 1983. Tại tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Huỳnh Ngọc Q (Huỳnh Ngọc Q1) (chết) và bà Trần Thị S.
Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 03, chưa có vợ con.
Tiền án:
- - Ngày 28/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bản án số 46/2016/HSST.
- - Ngày 23/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bản án số 54/2017/HSST.
- - Ngày 09/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bản án số 113/2019/HSST.
- - Ngày 10/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bản án số 04/2022/HSST.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 20/8/2012 bị Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Ngày 01/11/2012 bị Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (QĐ số 23/XP.VPHC).
- - Ngày 28/9/2015 bị Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.550.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (QĐ số 88/QĐ-XPVPHC).
- Ngày 12/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bản án số 36/2013/HSST.
Bị bắt tạm giam ngày 15/3/2024.
Bị hại:
Anh Ao Trọng V1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Nơi cư trú: tổ G, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Đào Thị Bé L, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền sử dụng ma tuý, nên Huỳnh Quang V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Vào khoảng 8 giờ 40 phút ngày 14/3/2024, V đi bộ từ nhà tại ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đi quanh khu vực xã B để tìm kiếm tài sản của người dân để sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, V đi ngang qua vườn cây kiểng “Bảy Trung” tại ấp E, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, thì phát hiện thấy 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 của anh Ao Trọng V1 đang dựng trước sân của vườn cây kiểng, trên xe còn cắm sẵn chìa khoá và không có người trong coi, nên V đi vào sân dắt chiếc xe máy ra đường rồi nổ máy tẩu thoát.
Sau đó, V điều khiển xe trộm cắp được đến tiệm phế liệu của bà Đào Thị Bé L bán xe trộm cắp được cho chị L (cân phế liệu) với giá 500.000 đồng. Đến ngày 15/3/2024, anh V1 làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã B. Cùng ngày, V đến Công an xã B đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 đã thu hồi trả lại cho bị hại V1.
- - 01 USB chứa dữ liệu Camera ghi lại hình ảnh V chạy xe vào tiệm phế liệu của bị L bán xe cho chị L đã được chuyển kèm hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luật định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 màu nâu đã qua sử dụng trị giá 2.050.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 156/CT-VKS-LT ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Huỳnh Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo V tại bản Cáo trạng số 156/CT-VKSLT ngày 06 tháng 6 năm 2024 và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Quang V mức án từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù.
Đề nghị về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 đã trả lại cho anh Ao Trọng V1, anh V1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với số tiền 500.000 đồng V bán xe cho bà L, bà L không yêu cầu V bồi thường.
Về biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo V phải nộp lại số tiền 500.000đồng do V phạm tội mà có, để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đề nghị xử lý vật chứng:
01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 là tài sản của anh Ao Trọng V1, đã thu hồi hoàn trả cho anh V1.
Đối với bà Đào Thị Bé L, bà L mua 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 của bị cáo V, mua dạng sắt vụ. Bà L không biết do bị cáo V phạm tội mà có. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xử lý đối với bà L là đúng theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Huỳnh Quang V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 14/3/2024, khi bị cáo V đi ngang qua vườn cây kiểng “Bảy Trung” tại ấp E, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, thì phát hiện thấy 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 của anh Ao Trọng V1 đang dựng trước sân của vườn cây kiểng, trên xe còn cắm sẵn chìa khoá và không có người trong coi, bị cáo V đi vào sân lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh V1 dẫn ra đường rồi nổ máy tẩu thoát. Sau đó, V điều khiển xe trộm cắp được đến tiệm phế liệu của bà Đào Thị Bé L bán xe trộm cắp được cho chị L (cân phế liệu) với giá 500.000 đồng. Cùng ngày, V đến Công an xã B đầu thú.
Tại bản kết luật định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 màu nâu đã qua sử dụng trị giá 2.050.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo V không thắc mắc gì với Kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 15/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L.
Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Quang V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tác động xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Bị cáo V đã có nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bản án xét xử lần trước là tình tiết định tội cho lần phạm tội tiếp theo. Do đó, không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.Qua đó, thể hiện bị cáo rất xem thường pháp luật.
[4] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 đã trả lại cho anh Ao Trọng V1, anh V1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Đối với số tiền 500.000 đồng V bán xe cho L, bà L không yêu cầu V bồi thường nên không xem xét.
[6]. Xử lý vật chứng:
01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 là tài sản của anh Ao Trọng V1, đã thu hồi hoàn trả cho anh V1.
[7]. Biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo V phải nộp lại số tiền 500.000đồng do V phạm tội mà có, để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Ngoài ra, đối với bà Đào Thị Bé L, bà L mua 01 xe mô tô hiệu QUICKNEWWAVE, biển số 51Z2-8682 của bị cáo V, mua dạng sắt vụ. Bà L không biết do bị cáo V phạm tội mà có. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xử lý đối với bà V là đúng theo quy định pháp luật.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Huỳnh Quang V 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 15/3/2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo V phải nộp lại số tiền 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng) tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hùng Minh Sang |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
