|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 165/2024/HSPT Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức
Bà Hoàng Thị Nguyệt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Công C - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 199/2024/HSPT ngày 25/7/2024 đối với bị cáo Lê Quang S và đồng bọn, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Lê Quang S, sinh ngày 16/10/1994, tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Lê Quang H, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1974; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
2. Lê Văn T, sinh ngày 20/7/1999, tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số [...]; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ vă hóa: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Lê Văn C2, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; Có vợ là Mai Thị Thùy T1, sinh năm 2001; Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 16/01/2017, bị Công an huyện T (nay là Công an thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tụ tập nhiều người, mục đích đánh nhau; Ngày 10/5/2021, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP V, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Lê Đình D, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP Tiền Phong, phường Hải Bình, TX Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP Tân Hải, phường Hải Bình, TX Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
4. Anh Lê Ngọc V, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, Thanh Hóa
Là cán bộ công an phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
5. Anh Lê Văn T3, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thị xã N, Thanh Hóa
Là cán bộ công an phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Các bị cáo: Đỗ Văn T4, Dương Văn B, Cao Bá C3, Hà Văn T5, Lê Hữu H2 không kháng cáo; không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 12/10/2023, Đỗ Văn T4, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố Đ, phường H; Lê Quang S, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố L, phường T; Dương Văn B, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố T, phường H; Lê Văn T, sinh năm 1999 và Cao Bá C3, sinh năm 2000, cùng trú tại thôn B, xã H, thị xã N hát karaoke tại quán “Minh Nhật” thuộc khu tái định cư T, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 18 giờ 45 cùng ngày, cả nhóm không hát nữa mà rủ nhau đi ra đường dân sinh đi Cảng cá H đứng chơi. Một lát sau, Lê Quang S dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ trắng, không gắn biển số ra đường nổ máy để chở mọi người về, nhưng xe không nổ máy được. Thấy vậy, Lê Văn T ngồi sau xe đã nhảy xuống đẩy xe ra giữa ngã ba giao đường đi Cảng cá H. Cùng lúc này có anh Lê Văn Đ, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An điều khiển xe ô tô khách BKS 37B - 024.26 từ hướng Quốc lộ A đi đến nhưng bị chiếc xe mô tô của S dựng giữa ngã ba đường và T4, S, B, T và C3 cũng đang đứng chắn trên đường, cản trở giao thông nên xe của anh Đào không thể đi qua được. Anh Đ dừng xe lại, mở cửa xe nói với mọi người nhường đường, nhưng cả bọn không chịu nhường đường và có biểu hiện say xỉn. Do lo sợ bị liên lụy nên anh Đào đóng cửa xe lại, thì T4 và T đi lại đầu xe ô tô của anh Đào, T dùng tay vỗ liên tiếp vào kính chắn gió phía trước xe ô tô để trêu chọc.
Cùng thời điểm này, có thêm anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố V, phường N, thị xã N điều khiển xe ô tô tải BKS 36H - 034.01 từ hướng Cảng cá H đi đến cũng bị T4, S, B, T và C3 đứng trên đường cản trở nên xe anh L không thể đi qua được. Thấy vậy, anh L dừng xe lại, xuống xe nói chuyện, thì bị T4, T, B chửi bới nên anh L lên xe ô tô đóng cửa lại. T4 đi lại xe ô tô của anh L, dùng tay giật tay nắm cửa bên trái của xe làm tay tay nắm cửa bị gãy rời ra, tiếp đó T4 cầm tay nắm cửa đập liên tiếp vào kính chắn gió bên trái xe ô tô của anh L. Sợ bị đánh nên anh L điều khiển xe ô tô đến nhà anh Lê Đình D, sinh năm 1983, ở tổ dân phố T, phường H, thị xã N tránh né. Lúc này anh Đào cũng điều khiển xe ô tô khách đi khỏi hiện trường. Thấy anh L điều khiển xe ô tô đến nhà anh D, nên T4, S, B, T và C3 đi đến nhà anh D để gây sự với anh L, thì bị anh D ngăn cản không cho vào nhà. Thấy vậy, B dùng tay xô anh D ra, rồi cùng với T4 chạy về phía anh L chởi bới, đe dọa, thách thức. Lúc này, đồng chí Lê Văn T3 và đồng chí Lê Ngọc V, là cán bộ Công an phường H, thị xã N được phân công có mặt, xử lý vụ việc. Tại đây đồng chí Lê Văn T3 và đồng chí Lê Ngọc V yêu cầu các đối tượng phối hợp với Công an phường để giải quyết vụ việc, tuy nhiên T4, S, B, T và C3 không chấp hành mà tiếp tục chửi bới, đe dọa, thách thức anh D và anh L. Nhìn thấy các đối tượng chửi bới, đe dọa, thách thức anh D, anh L, thì Hà Văn T5, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố N, phường H, thị xã N xông vào dùng tay chân xô đẩy, đấm đá, vật lộn với Lê Quang S, sau đó T5 bị các đối tượng đánh trả nên bỏ chạy. Quá trình xử lý vụ việc, đồng chí T3 và đồng chí V liên tục yêu cầu các đối tượng chấm dứt hành vi vi phạm, tuy nhiên các đối tượng không chấp hành. S còn dùng tay xô đẩy đồng chí V để lùa đuổi T5, nhưng được mọi người can ngăn nên không lùa theo T5 nữa mà tiếp tục chửi bới, đe dọa, thách thức anh D cho đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, các đối tượng mới đi khỏi hiện trường. Sự việc xảy ra có nhiều người đứng xem, gây ùn tắc, cản trở cho các phương tiện tham gia giao thông trên đường đi Cảng cá H trong thời gian khoảng 30 phút, trên đoạn đường dài khoảng 270m, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự.
Quá trình điều tra xác định, ngoài thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nêu trên, thì vào ngày 19/01/2024, Dương Văn B còn cùng với Lê Hữu H2, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N gây rối trật tự công cộng tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N. Cụ thể như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Lê Hữu H2 và Dương Văn B đến quán ăn L1 ở tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tại đây cả hai gặp anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N cùng vợ là chị Trần Thị N (sinh năm 1985) và 03 người con đang ngồi ăn tối tại quán. Thấy vậy, H2 cầm 01 cốc bia đi sang bàn của anh T2 mời uống, nhưng anh T2 không uống. Bực tức vì bị từ chối lời mời nên H2 dùng tay tát anh T2 một cái vào mặt, tiếp đó B cũng xông đến cùng với H2 dùng tay, chân đấm, đá liên tiếp vào người anh T2. Anh T2 bỏ chạy ra ngoài đường, thì H2 và B lùa theo tiếp tục dùng tay chân đấm đá anh T2, gây thương tích. Sau đó được mọi người can ngăn nên H2 và B không đánh anh T2 nữa, anh T2 bị thương được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị. Sự việc xảy ra đã ảnh hưởng đến hoạt động của quán ăn L1 ở thời điểm có đông người đến sinh hoạt, ăn tối, gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự nơi công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội trên địa bàn.
Quá trình điều tra, các Bị cáo Đỗ Văn T4, Lê Quang S, Dương Văn B, Lê Văn T, Cao Bá C3, Hà Văn T5 và Lê Hữu H2 đã thành khẩn khai báo hành vi gây rối trật tự công cộng, cản trở giao thông, dừng phương tiện xe ô tô, phá phách tài sản, hành hung cán bộ Công an phường H bảo vệ trật tự công cộng, chửi bới, đe dọa, thách thức, lùa đuổi đánh nhau trên đường đi Cảng cá H và trên đường dân sinh thuộc tổ dân phố T, phường H, thị xã N, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 109/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận: Tay nắm cửa xe ô tô tải BKS 36H - 034.01 của anh Nguyễn Văn L tại thời điểm bị hư hỏng, trị giá 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng).
Cũng trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 08 GB do anh Đậu Văn T6, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố N, phường H, thị xã N giao nộp, bên trong USB chứa 01 đoạn Video được trích xuất từ máy camera an ninh nhà anh T6 ghi lại hình ảnh vụ việc; 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 08GB do anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã P, thị xã N giao nộp, bên trong USB chứa 01 đoạn Video được trích xuất từ máy camera an ninh nhà anh H3 ghi lại hình ảnh vụ việc; 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 08GB do anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố V, phường N, thị xã N giao nộp, bên trong USB chứa 08 đoạn Video được trích xuất từ camera ô tô tải BKS 36H-034.01 và 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 08GB do anh Lê Đình D, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N giao nộp, bên trong USB chứa 01 đoạn Video được trích xuất từ camera an ninh nhà anh D ghi lại hình ảnh vụ việc. Dữ liệu bên trong các USB trên đều chứa đựng các tệp video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày ngày 12/10/2023, tại đường Đ thuộc tổ dân phố T, phường H, thị xã N. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 USB màu đen, có chữ hp, chứa 01 tệp Video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 19/01/2024, tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N do chị Bùi Thị M, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố L, phường H, thị xã N giao nộp. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dữ liệu hình ảnh video trong các USB thu giữ nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 4219/KL-KTHS ngày 20/11/2023, phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các tệp video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày ngày 12/10/2023, tại đường Đ thuộc tổ dân phố T, phường H, thị xã N: Không xác định được tệp Video mang tên “MOVI9176.avi" gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không. Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa cắt ghép nội dung hình ảnh trong 10 tệp Video còn lại của 04 USB gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1336/KL-KTHS ngày 02/4/2024, phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tệp Video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 19/01/2024 tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong tệp Video gửi giám định.
Sau giám định, các USB chứa dữ liệu hình ảnh nêu trên và các tài liệu giám định đã được đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định.
Đối với thương tích của anh Nguyễn Văn T2, Hà Văn T5 và Lê Quang S, quá trình điều tra những người này đã từ chối giám định thương tích nên không xác định được mức độ tổn hại cơ thể làm căn cứ để xử lý các đối tương gây thương tích theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Đối chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu đỏ trắng, không gắn biển số, quá trình điều tra xác định, chiếc xe này là của anh Đào Văn N1, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã T, thị xã N cho Lê Quang S mượn, anh N1 không biết S sử dụng chiếc xe của anh để thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nên anh N1 không có lỗi, xét thấy không cần thiết nên Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe của anh N1. Đối với tay nắm cửa của xe ô tô tải BKS 36H - 034.01, quá trình điều tra Đỗ Văn T4 khai, sau khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, T4 đã ném tay nắm cửa tại đường Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/10/2023, bị cáo Đỗ Văn T4 đã thỏa thuận, bồi thường cho anh Nguyễn Văn L số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) để sửa chữa tay nắm cửa xe ô tô tải BKS 36H - 034.01 mà T4 đã làm hư hỏng. Sau khi nhận tiền bồi thường, anh L không yêu cầu T4 bồi thường gì thêm về dân sự. Ngày 29/02/2024, các bị cáo Lê Hữu H2 và Dương Văn B cũng đã thỏa thuận, bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) do sức khỏe bị xâm hại, anh T2 không yêu cầu Hòa và B bồi thường gì thêm về dân sự, đồng thời xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Đỗ Văn T4;
- Điểm đ khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Lê Quang S;
- Khoản 1 Điều 318; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Bộ luật hình sự đối với Dương Văn B;
- Khoản 1 Điều 318; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Bộ luật hình sự đối với Lê Hữu H2;
- Khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Bộ luật hình sự đối với Lê Văn T;
- Khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Bộ luật hình sự đối với Cao Bá C3;
- Khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Bộ luật hình sự đối với Hà Văn T5;
Tuyên bố: Các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
Đỗ Văn T4 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Lê Quang S 24 tháng tù (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Dương Văn B 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/4/2024.
Lê Hữu H2 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
L2 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Cao Bá Chiến 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Hà Văn T5 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.
Sau khi xét xử, bị cáo Lê Quang S và Lê Văn T làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo công nhận hành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với các bị cáo là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Quang S;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T:
- Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo Lê Quang S; Giữ nguyên hình phạt 24 tháng tù nhưng cho bị cáo S được hưởng án treo, ấn định thời gian thửa thách theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Từ khoảng 18 giờ 45 phút đến 19 giờ 15 phút ngày 12/10/2023, tại đường Đ thuộc tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Văn T4, Lê Quang S, Dương Văn B, Lê Văn T, Cao Bá C3 và Hà Văn T5 đã có hành vi tụ tập đông người, cản trở giao thông, chửi bới, đe dọa, thách thức, lùa đuổi, đánh nhau, gây náo loạn, ùn tắc giao thông, cản trở cho các phương tiện tham gia giao thông, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Quá trình tham gia gây rối, Đỗ Văn T4 còn có hành vi phá phách tay nắm cửa xe ô tô tải BKS 36H - 034.01 của anh Nguyễn Văn L; Lê Quang S đã dùng tay xô đẩy đối với cán bộ Công an phường H, thị xã N đang làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng.
Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Quang S theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Lê Văn T theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 và đồng bọn về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Các bị cáo chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho hưởng án treo.
- Xét kháng cáo của các bị cáo:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo gồm: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Đối với bị cáo S có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật, tại địa phương, bị cáo có ủng hộ các cháu mồ côi có hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tại địa phương, bị cáo có ủng hộ các cháu mồ côi có hoàn cảnh khó khăn nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại giai đoạn phúc thẩm,
Bị cáo Lê Quang S giao nộp cho Tòa án thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là: bị cáo có ông nội Lê Quang T7 là người có công với Cách mạng; Bị cáo có đơn đề nghị xin được hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; Bị cáo tham gia ủng hộ xây nhà cho hộ nghèo trên địa bàn phường và ủng hộ đồng bão miền B bị bão lụt. Bản thân đồng chí Lê Văn T3 là cán bộ Công an phường H, thị xã N (người được phân công tham gia giải quyết vụ việc các đối tượng gây rối trật tự công cộng và S đã có hành vi vi phạm với các đồng chí này) có đơn đề nghị Tòa án tỉnh Thanh Hóa cho S được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để S có thể vừa cải tạo thành người công dân tốt, vừa có thể lao động chăm sóc, giúp đỡ gia đình, đặc biệt là bố mẹ già yếu (Đơn có xác nhận của Công an phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa).
Bị cáo Lê Văn T giao nộp cho Tòa án giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến của ông bà nội bị cáo.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Đối với bị cáo Lê Quang S:
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét, xử phạt bị cáo ở mức đầu khung hình phạt là đã xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Về kháng cáo xin hưởng án treo: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ. Chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng như Công an phường nơi xảy ra sự việc xác nhận cho bị cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để được hưởng án treo nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Do đó chấp nhận một phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà là có căn cứ.
- Đối với bị cáo Lê Văn T:
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 16/01/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tụ tập nhiều người, mục đích đánh nhau; Ngày 10/5/2021 bị Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thừa nhận đã bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần như bản án hình sự sơ thẩm đã ghi tại phần nhân thân, không thắc mắc gì. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 05 tháng tù là phù hợp với hành vi vi phạm và nhân thân của bị cáo. Do đó không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo đối với bị cáo.
[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí
- Án phí sơ thẩm: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Quang S và Lê Văn T đã tự nguyện nộp án phí nên được trừ vào số tiền án phí hình sự sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm:
Bị cáo Lê Quang S không phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.
Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Quang S.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T;
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
[2] Áp dụng: Khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Lê Quang S.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Lê Văn T.
[3] Tuyên bố các bị cáo Lê Quang S và Lê Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Xử phạt Lê Quang S 24 tháng tù (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Quang S cho UBND phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Lê Văn T 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành bản án.
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Quang S đã nộp số tiền 200.000₫ tại Biên lai thu tiền số 003699 ngày 27/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Bị cáo Lê Văn T đã nộp số tiền 200.000đ tại Biên lai thu tiền số 003700 ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Bị cáo Lê Quang S và Lê Văn T đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Quang S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi gửi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trương Thị A |
Bản án số 165/2024/HSPT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 165/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Gây rối trật tự công cộng
