|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 165/2023/HNGĐ-ST Ngày 18-8-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Khuê
Bà Nguyễn Thị Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mạc Thị T; nơi cư trú: Thôn 6, xã CN, huyện TN, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, nơi ĐKHKTT: Thôn 6, xã CN, huyện TN, thành phố Hải Phòng; hiện nay đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Nguyên, địa chỉ: Xã LX, huyện TN, thành phố Hải Phòng.
Các đương sự đều vắng mặt và xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Mạc Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên vào ngày 28/9/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn 6, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân với nhau từ đầu năm 2019, chị cùng hai con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải song không đạt kết quả. Đến ngày 29/11/2019, anh Phạm Văn T chấp hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên, địa chỉ: Xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Hiện nay, anh T đang chấp hành án phạt tù tại đội 4, phân trại số 02, Trại giam Xuân Nguyên. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn T.
Về con chung: Chị và anh Phạm Văn T có hai con chung là Phạm Phúc H, sinh ngày 03/10/2016 và Phạm Gia M, sinh ngày 30/11/2018. Hiện nay các con chung đang ở với chị, sức khỏe bình thường. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi các con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh Phạm Văn T và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Phạm Văn T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị đơn – anh Phạm Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị Mạc Thị T trình bày là đúng. Nay chị Mạc Thị T xin ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh thống nhất với lời khai của chị Mạc Thị T về con chung. Anh đồng ý để chị Mạc Thị T nuôi dưỡng hai con chung là Phạm Phúc H, sinh ngày 03/10/2016 và Phạm Gia M, sinh ngày 30/11/2018. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh đồng ý với ý kiến của chị Mạc Thị T và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh thống nhất với chị Mạc Thị T: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 21/6/2023 tại chính quyền địa phương xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thể hiện: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và con chung của chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T như anh chị trình bày là đúng. Anh Phạm Văn T hiện nay đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên. Địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của đương sự, quy định pháp luật để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời khai như trong bản tự khai và trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc T theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mạc Thị T: Xử cho chị Mạc Thị T ly hôn với anh Phạm Văn T. Về con chung: Giao các con chung là Phạm Phúc H, sinh ngày 03/10/2016 và Phạm Gia M, sinh ngày 30/11/2018 cho chị Mạc Thị T nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mạc Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, nguyên đơn đang sinh sống tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên (xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng), theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 28/9/2016, theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau. Mặc khác, năm 2019 anh Phạm Văn T phải đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên. Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đã sống ly thân với nhau trong một thời gian dài. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị T, xử cho chị Mạc Thị T ly hôn với anh Phạm Văn T.
[3] Về con chung: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đều xác định có hai con chung là Phạm Phúc H, sinh ngày 03/10/2016 và Phạm Gia M, sinh ngày 30/11/2018. Hội đồng xét xử, xét thấy: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đều thống nhất, thỏa thuận: Ly hôn, chị Mạc Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Việc chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T thỏa thuận, thống nhất về việc nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức nên cần được chấp nhận. Mặt khác, hiện nay anh Phạm Văn T đang chấp hành án phạt tù nên không thể có điều kiện nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi của con chung, do đó cần giao các con chung Phạm Phúc H, sinh ngày 03/10/2016 và Phạm Gia M, sinh ngày 30/11/2018 cho chị Mạc Thị T nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T đều xác nhận không tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị T được chấp nhận nên chị Mạc Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Thị T ly hôn anh Phạm Văn T.
2. Về con chung: Giao các con chung tên là Phạm Phúc H, sinh ngày 03/10/2016 và Phạm Gia M, sinh ngày 30/11/2018 cho chị Mạc Thị T nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Mạc Thị T và anh Phạm Văn T xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự: Chị Mạc Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nH được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008496 ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Mạc Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Mạc Thị T, anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Phạm Thị Khuê |
Nguyễn Thị Lương |
Vũ Thị Hằng |
Bản án số 165/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 165/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trang + Tuân
