TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày: 18-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
- 2/ Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1989, tại Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện M, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1994 (đã ly thân); bị cáo có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/12/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 2, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng, bị cáo chấp hành xong ngày 24/3/2018. Ngày 29/7/2023, bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B. Đến ngày 07/8/2023, bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Bị cáo có mặt.
- Bị hại:
- + Ông Lê Đình C, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại C: Ông Lê Văn L1, sinh năm 1930 (cha của bị hại) và bà Đặng Kim P, sinh năm 1943 (mẹ của bị hại); cùng hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L1 và bà P: Ông Lê Minh T, sinh năm 1971; hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
- + Bà Trịnh Thị Ú, sinh năm 1986; hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Ú: Ông Trịnh Xuân V, sinh năm 1954 (cha của bị hại) và bà Lê Thị H, sinh năm 1957 (mẹ của bị hại); cùng hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo ủy quyền của Ông V và bà H: Ông Trịnh Văn V1, sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
- Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thanh Đ có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 20/12/2018, có giá trị đến ngày 20/12/2023. Bị cáo làm nghề lái xe thuê cho ông Nguyễn Văn P1.
Khoảng 14 giờ ngày 29/7/2023, ông Nguyễn Văn P1 giao xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56 do ông đứng tên sở hữu cho bị cáo điều khiển đi từ Ấp C, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh đến kho trung chuyển heo thịt C1 B thuộc xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương để chở heo. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường NE8 hướng từ đường M đến ngã tư giao nhau với đường Q thuộc khu phố C, phường T, thị xã B (nay là thành phố B), bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 18C-141.56 dừng chờ đèn tín hiệu giao thông màu đỏ. Khi đèn tín hiệu giao thông chuyển màu xanh thì bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 18C-141.56 rẽ phải vào đường Q hướng đến cổng khu công nghiệp M. Lúc này, do bị cáo không chú ý quan sát nên đầu xe ô tô tải biển số 18C-141.56 va chạm vào phía sau đuôi xe mô tô hiệu Honda loại Vision biển số: 68C1-491.10 do ông Lê Đình C điều khiển chở theo vợ là bà Trịnh Thị Ú ngồi sau, chạy cùng chiều trên đường NE8 đang chuyển hướng rẽ trái vào đường Q hướng đến phường T, thành phố B gây tai nạn giao thông. Hậu quả vụ tai nạn làm ông Lê Đình C và bà Trịnh Thị Ú tử vong tại hiện trường.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 29/7/2023 thể hiện:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là giao lộ giao nhau giữa đường NE8 với đường Quốc lộ 13, có đèn tín hiệu giao thông từ các hướng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất.
- Đoạn đường NE8 là đoạn đường hai chiều, thẳng, mặt đường trải nhựa khô cứng, chiều rộng phần đường NE8 là 22,40m, được chia thành hai chiều hướng xe chạy bằng vạch sơn đôi nét liền màu vàng ở giữa. Chiều rộng mỗi chiều đường 11,0m có ba làn đường, làn đường sát lề rộng 3,7m, làn đường giữa rộng 3,7m.
- Đoạn đường Quốc lộ 13 là đoạn đường đôi, thẳng, mặt đường trải nhựa khô cứng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất, đoạn đường có dãy phân cách di động phân chia phần đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt; mỗi chiều rộng 10,8m, có ba làn đường, làn đường xe mô tô rộng 3,3m, xe ô tô tải rộng 3,9m, xe ô tô con rộng 3,6m, có biển báo phân làn đường.
- Lấy mép đường bên phải phần đường NE8 theo chiều hướng xe lưu thông từ đường M đến đường Q làm mép đường chuẩn.
- Lấy trụ điện số 66 nằm trong mép đường chuẩn, cách mép đường chuẩn là 6,7m, cách trục bánh trước thứ nhất bên phải xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56 là 14,2m làm điểm mốc.
- Xe ô tô tải biển số: 18C-141.56, đỗ tại hiện trường, đầu xe hướng ra đường Quốc lộ 13 chếch về cổng khu công nghiệp M, đuôi xe hướng về đường M Trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 3,6m, bên trái là 6,2m. Trục bánh sau thứ hai bên phải cách mép đường chuẩn là 3,4m, bên trái là 5,9m. Trục bánh sau thứ tư bên phải cách mép đường chuẩn là 3,5m, bên trái là 6,2m.
- Nạn nhân Trịnh Thị Ú tử vong tại hiện trường trong tư thế nằm ngửa, nạn nhân mặc áo mưa bộ. Đầu nạn nhân hướng về đường Q, chân nạn nhân hướng về đường M Đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 6,9m, cách trục bánh sau thứ hai bên trái xe ô tô tải biển số: 18C-141.56 là 0,8m, cách trục bánh trước bên trái là 2,0m. Khoảng giữa hai chân nạn nhân cách mép đường chuẩn là 7,1m, cách trục bánh sau thứ ba bên trái xe ô tô tải biển số: 18C-141.56 là 4,0m.
- Nạn nhân Lê Đình C tử vong tại hiện trường trong tư thế nằm ngửa, nạn nhân mặc áo thun ngắn tay màu xanh, quần Jean. Đầu nạn nhân hướng sang lề trái, chân nạn nhân hướng vào mép đường chuẩn. Đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 8,0m, cách trục bánh trước bên trái xe ô tô tải biển số: 18C-141.56 là 1,5m. Khoảng giữa hai chân nạn nhân cách mép đường chuẩn là 5,6m, cách trục bánh trước xe ô tô tải biển số: 18C-141.56 là 1,7m.
- Vết cày xe mô tô hiệu Honda biển số: 68C1 – 491.10, để lại trên mặt đường có dạng thẳng, đứt quãng, không liên tục, vết cày nằm dưới xe ô tô tải biển số: 18C-141.56. Kích thước vết cày là 5,5m x 0,02m. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 5,2m, cách trục bánh thứ hai bên phải xe ô tô tải biển số: 18C-141.56 là 3,3m, điểm cuối vết cày kết thúc tại bên trái xe mô tô biển số: 68C1 – 491.10.
- Xe mô tô biển số: 68C1 – 491.10, ngã nghiêng sang bên trái, đầu xe hướng vào mép đường chuẩn, đuôi xe hướng sang mép đường bên trái. Xe mô tô biển số: 68C1 – 491.10 nằm dưới đầu cabin xe ô tô tải biển số: 18C-141.56. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 4,0m, cách trục bánh trước bên phải xe ô tô tải biển số: 18C-141.56 là 1,2m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 5,4m.
Theo biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 29/7/2023 thể hiện:
* Dấu vết trên xe mô tô biển số: 68C1 - 491.10 sau va chạm:
- - Cong, móp mép bên phải biển số sau hướng từ sau về trước có kích thước là 0,16m x 0,07m.
- - Vết trượt xước mất sơn ốp hông phía sau bên phải hướng từ sau về trước có kích thước là 0,10m x 0,02m.
- - Vết trượt xước baga sau bên phải có kích thước là 0,10m x 0,01m.
- - Rách vỏ cao su tay cầm xe bên phải có kích thước là 0,11m x 0,01m.
- - C1 thắng tay bên phải hướng về trước còn dính vết màu bạc có kích thước là 0,14m x 0,04m.
- - Mài mòn đầu tay cầm xe bên trái, gác chân sau bên trái, baga sau bên trái.
- - Cong gương chiếu hậu bên trái.
* Dấu vết trên xe ô tô tải biển số 18C-141.56 sau va chạm:
- - Vết trượt xước mặt trước cảng trước bên phải có kích thước là 0,1m x 0,03m.
- - Vết trượt xước ốp bảo vệ lưới tản nhiệt bên phải hướng từ phải sang trái có kích thước là 0,2m x 0,05m.
- - Vết trược xước mặt dưới cảng trước bên phải có kích thước là 0,1m x 0,05m.
Theo Bản kết luận giám định tử thi số: 599/KLGĐTT-PC09 ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Lê Đình C do đa chấn thương.
Theo Bản kết luận giám định tử thi số: 601/KLGĐTT-PC09 ngày 01/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Trịnh Thị Ú do đa chấn thương.
Theo Bản kết luận giám định số: 333/KL-KTHS ngày 31/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển số 18C-141.56 với xe mô tô biển số 68C1-491.10:
- - Dấu vết hằn xước ốp nhựa tản gió màu đen bên phải đầu xe ô tô có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước cạnh phải ốp nhựa đèn phanh đuôi xe mô tô có chiều từ sau về trước.
- - Dấu vết trượt xước mặt dưới bên phải cản trước đầu xe, mặt trước trục trước xe ô tô có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, rách ốp cao su tay lái phải, trượt xước chân gương chiếu hậu, cong tay phanh bên phải, cong vỡ biến dạng biển số xe mô tô có chiều từ sau về trước, khi xe mô tô đã đổ ngã bên trái trên mặt đường.
- Cơ chế hình thành dấu vết trên xe ô tô tải biển số 18C-141.56 và xe mô tô biển số 68C1-491.10: Mặt trước bên phải đầu xe ô tô va chạm vào phía sau đuôi xe mô tô, làm xe mô tô đổ ngã bên trái và bị xe ô tô đẩy trượt trên mặt đường (như mục 1, phần V) tạo ra các dấu vết trên các phương tiện.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô tải biển số 18C-141.56 với xe mô tô biển số 68C1-491.10 chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước đầu vết cày ký hiệu số (3) trên sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông.
Kết quả đo nồng độ cồn của bị cáo tại thời điểm tham gia giao thông gây tai nạn là 0,000mg/L. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Đ khai: Khi điều khiển xe ô tô tải biển số 18C-141.56 chuyển hướng rẽ phải vào đường Quốc lộ 13, do Đ không chú ý quan sát gương cầu lồi bên phải nên điều khiển xe va chạm vào xe mô tô biển số 68C1-491.10.
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA5905596; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: OT230035483; 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 20/12/2018, có giá trị đến ngày 20/12/2023 mang tên Nguyễn Thanh Đ; 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng A1; 01 Giấy phép lái xe số Z906504 hạng A1;01 xe mô tô hiệu Honda biển số: 68C1 – 491.10; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 038539.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và bị đơn dân sự ông Nguyễn Văn P1 đã khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Lê Đình C và Trịnh Thị Ú số tiền 150.000.000 đồng (trong đó 15.000.000 đồng là 01 tháng lương của bị cáo và 135.000.000 đồng là tiền ông Nguyễn Văn P1 hỗ trợ bị cáo bồi thường). Ông Lê Minh T là đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Lê Đình C tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng và ông Trịnh Văn V1 là đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Trịnh Thị Ú tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nhưng hiện tại chưa có tiền.
Ông Nguyễn Văn P1 không yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại số tiền 135.000.000 đồng mà ông đã hỗ trợ bồi thường thay cho bị cáo.
* Quá trình điều tra xác định xe mô tô hiệu Honda biển số: 68C1 – 491.10 là tài sản hợp pháp của bị hại Lê Đình C và bà Trịnh Thị Ú do bị hại Lê Đình C đứng tên đăng ký sở hữu.
* Quá trình điều tra xác định xe xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56 do ông Nguyễn Văn P1 đứng tên đăng ký sở hữu.
* Về xử lý vật chứng:
- + Ngày 17/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả: 01 xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA5905596 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: OT230035483 cho ông Nguyễn Văn P1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 327/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 07/8/2023;
- + Ngày 08/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả: 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng A1 cho ông Lê Minh T là đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Lê Đình C và trả 01 Giấy phép lái xe số Z906504 hạng A1 cho ông Trịnh Văn V1 đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Trịnh Thị Ú theo Quyết định xử lý vật chứng số 328/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 07/8/2023;
- + Ngày 25/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 20/12/2018, có giá trị đến ngày 20/12/2023 mang tên Nguyễn Thanh Đ cho bị cáo Nguyễn Thanh Đ theo Quyết định xử lý vật chứng số 340/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 28/8/2023.
Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKS-BC ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ từ 03 năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- - Ngày 07/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả: 01 xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA5905596 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: OT230035483 cho ông Nguyễn Văn P1; giao trả 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng A1 cho ông Lê Minh T; giao trả 01 Giấy phép lái xe số Z906504 hạng A1 cho ông Trịnh Văn V1; 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 20/12/2018, có giá trị đến ngày 20/12/2023 mang tên Nguyễn Thanh Đ cho bị cáo Nguyễn Thanh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda biển số: 68C1 – 491.10. Xét, đây là tài sản của bị hại Lê Đình C và bà Trịnh Thị Ú do ông Lê Đình C đứng tên đăng ký nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C.
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 038539. Xét đây là tài sản do bị hại Lê Đình C đứng tên nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn thì bị cáo và ông Nguyễn Văn P1 có đã khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Lê Đình C và Trịnh Thị Ú số tiền 150.000.000 đồng. Ông Lê Minh T là đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Lê Đình C tiếp tục yêu cầu bị cáo khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng và ông Trịnh Văn V1 là đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân Trịnh Thị Ú tiếp tục yêu cầu bị cáo khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- * Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại Lê Đình C (ông Lê Minh T) trình bày: Gia đình bị hại Lê Đình C yêu cầu bị cáo khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình bị hại Lê Đình C đề nghị Tòa án xét xử bị cáo đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
- * Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại Trịnh Thị Ú (ông Trịnh Văn V1) trình bày: Gia đình bị hại Trịnh thị Ú1 yêu cầu bị cáo khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình bị hại Lê Đình C đề nghị Tòa án xét xử bị cáo đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
- * Theo đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Ông P1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và ông không có yêu cầu gì trong vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 125/CT-VKS-BC ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân nhân thành phố B đã truy tố, bị cáo nhìn nhận trách nhiệm của mình và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo rất hối hận, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình lo cho hai con nhỏ của bị cáo và lo cho các con của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn, kết luận giám định pháp y tử thi, kết luận giám định, biên bản hỏi cung, tài liệu chứng cứ khác và trình bày của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Lúc 16 giờ 30 phút ngày 29/7/2023, tại G và đường Q thuộc khu phố C, phường T, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thanh Đ có hành vi điều khiển xe ô tô tải hiệu CHENGLONG biển số: 18C-141.56 chạy trên đường NE8, chuyển hướng rẽ phải vào đường Q, nhưng không chú ý quan sát khi chuyển hướng dẫn đến va chạm vào phía sau đuôi xe mô tô hiệu Honda loại Visson biển số: 68C1-491.10 do ông Lê Đình C điều khiển chở vợ là bà Trịnh Thị Ú đang chạy cùng chiều trên đường NE8 để chuyển hướng rẽ trái vào đường Q, dẫn đến gây tai nạn giao thông. Tại nạn giao thông xảy ra, làm ông Lê Đình C và bà Trịnh Thị Ú tử vong tại hiện trường. Hậu quả của hành vi đó đã gây ra cái chết thương tâm cho bị hại ông Lê Đình C và bà Trịnh Thị Ú. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã điểu khiển xe ô tô tải chuyển hướng không chú ý quan sát gây tai nạn cho xe mô tô biển 68C1-491.10 do ông Lê Đình C điều khiển chở vợ là bà Trịnh Thị Ú, hậu quả làm ông Lê Đình C và bà Trịnh Thị Ú tử vong tại chỗ là đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia gia thông đường bộ” theo quy điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi vô ý. Như vậy, có căn cứ kết luận bản Cáo trạng số 125/CT-VKS-BC ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo Đ thực hiện là rất nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản người bị hại, đồng thời ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra nhiều, có diễn biến phức tạp, vụ tai nạn giao thông do bị cáo Đ gây ra là một điển hình. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất mức độ hậu quả gây ra cũng như việc tuyên truyền phòng ngừa chung trong xã hội.
- Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú; bị cáo tự nguyện, khắc phục một phần hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính đang nuôi con nhỏ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- Nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân xấu.
- Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C yêu cầu bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại Trịnh Thị Ú yêu cầu bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả thêm số tiền 150.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên. Xét, việc tự nguyện của bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vison biển số: 68C1 – 491.10. Xét đây là tài sản của bị hại Lê Đình C và Trịnh Thị Ú nhưng do ông C đứng tên đăng ký sở hữu. Hơn nữa, tại phiên tòa đại diện của gia đình bị hại Trịnh Thị Ú đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho đại diện hợp pháp của bị hại C. Vì vậy, trả lại xe trên cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 038539. Xét, đây là tài sản do bị hại Lê Đình C đứng tên nên trả cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C.
- Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; Điều 46; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 29/7/2023 đến ngày 07/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Đ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C (ông Lê Văn L1, bà Đặng Kim P) số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Đ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Trịnh Thị Ú (ông Trịnh Xuân V, bà Lê Thị H) số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đình C (ông Lê Văn L1, bà Đặng Kim P): 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vison biển số 68C1-491.10, số máy JF86E0100656 số khung: 5838JY497459 (xe không khóa biển số bị cong móp, xa trầy sướt cong vênh, tại thời diểm nhận máy không khởi động được); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 038539;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát)
4. Án phí:
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Đ phải chịu 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
- + Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2024).
- + Bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Dương;
- - VKSND tỉnh Bình Dương;
- - VKSND TP. Bến Cát;
- - Công an TP. Bến Cát;
- - CCTHA TP. Bến Cát;
- - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
- - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương;
- - UBND xã Tân Lập, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An;
- - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
- - Lưu HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VVăn Quang Bảo |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Đ
