Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-7-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức, bà Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 464/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn” theo Thông báo mở lại phiên tòa số 26/TB-TA ngày 6 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Thanh H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0939.325.xxx và 0943.543.264

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988

Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang

SĐT: 0395.359.xxx

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Văn P – VPLS Nguyễn Văn P, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: D Q, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Anh và chị L do mai mối và sau đó hai bên tìm hiểu một thời gian thì tiến đến hôn nhân vào năm 2018, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh An Giang ngày 17/10/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến khoảng tháng 4/2020 thì bất đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn và gia đình hai bên cũng khuyên nhủ nhưng không được, mâu thuẫn càng lúc càng trầm trọng nên cả hai quyết định sống ly thân. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H yêu cầu được ly hôn với chị L.

Về con chung: Có một con chung tên Lê Hoàng D, sinh ngày 28/9/2019 hiện đang sống chung với chị L, khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Có 5 lượng vàng 9999, anh H rút lại yêu cầu chia tài sản chung, đề nghị Tòa án không tiếp tục giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị thống nhất với trình bày của anh H về quá trình kết hôn, chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn. Khoảng tháng 3/2020 thì chị và anh H đã không còn chung sống đến nay. Nay anh H yêu cầu ly hôn thì chị đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có một con chung tên Lê Hoàng D, sinh ngày 28/9/2019 hiện đang sống chung với chị, khi ly hôn chị đồng ý tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh H rút lại yêu cầu chia tài sản chung, chị không có ý kiến gì.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa: Các đương sự đều vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tòa án mở lại phiên tòa xét xử vào ngày 28/6/2024, nguyên đơn có mặt nhưng bị đơn và người bảo vệ hợp pháp của bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án mở phiên tòa lần thứ hai nhưng nguyên đơn vắng mặt, bị đơn và người bảo vệ hợp pháp của bị đơn cũng vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử các đương sự là phù hợp.

Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, anh H và chị L đã thống nhất về hôn nhân, con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H, cho anh H ly hôn với chị L, giao con chung là cháu Lê Hoàng D cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không cấp dưỡng do chị L không yêu cầu; về tài sản chung do anh H đã rút yêu cầu, chị L không có yêu cầu phản tố nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung; về nợ chung: không xem xét; về án phí: nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị L; yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt nhưng bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Phiên tòa mở lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[3] Xét việc tranh chấp:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị L xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Anh H và chị L thống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn và anh H yêu cầu ly hôn chị L cũng thống nhất ly hôn cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh H là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn, anh H được ly hôn chị L.

[3.2] Về con chung: Anh H và chị L thống nhất có một con chung tên Lê Hoàng D, sinh ngày 28/9/2019 hiện đang sống chung với chị L, khi ly hôn anh chị thống nhất giao cháu D cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ sự thỏa thuận của các bên và để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu D nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu D cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3.3] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh H yêu cầu chia tài sản chung là 05 lượng vàng 9999 nhưng sau đó anh H rút lại yêu cầu này, chị L không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung.

[3.4] Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, khoản 3 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Thanh H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thanh H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 28/9/2019 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Thanh H không cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Lê Thanh H và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Nguyễn Thị L. Chị Nguyễn Thị L và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung là 05 (năm) lượng vàng 9999.
  4. Về án phí: Anh Lê Thanh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.795.625 (Ba triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008022 ngày 17/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, anh Lê Thanh H được nhận lại 3.495.625 (Ba triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng. Chị Nguyễn Thị L không phải chịu án phí.

    Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 165/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Thanh H Ly Hôn Chị Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger