Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thanh Mỹ Xuyên
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 419/2023/HNST ngày 18 tháng 9 năm 2023 và việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 47/2024/QĐST-DSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Số B L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 9 năm 2023, tờ tự khai ngày 17 tháng 8 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị K trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh T (viết tắt là ông T) tự nguyện kết hôn vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 031/1998, ngày 25 tháng 9 năm 1998). Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm hay tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung. Ông T chơi cờ bạc, nợ nần nhiều, bà đã nhiều lần trả nợ cho ông T, đồng thời bà khuyên ông T bỏ cờ bạc, nhưng không có kết quả. Đến nay, bà K không còn khả năng trả nợ thay cho ông T nữa. Bà và ông T đã ly thân gần 02 năm. Bà xác định không còn tình cảm với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

không thể hàn gắn; vợ, chồng không còn tình cảm dành cho nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Thanh T1 (nam), sinh ngày 22 tháng 01 năm 1998 và Nguyễn Thị Thanh H (nữ), sinh ngày 06 tháng 5 năm 2001. Hai người con chung đã trưởng thành, việc sống với cha hay mẹ là do sự lựa chọn của con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà và ông T không có tài sản chung, không có nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T được Toà án triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cũng như các tờ tự khai đã trình bày.

Bị đơn được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: bà Phạm Thị K được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

+ Về con chung: Quá trình chung sống bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Thanh T1 (nam), sinh ngày 22 tháng 01 năm 1998 và Nguyễn Thị Thanh H (nữ), sinh ngày 06 tháng 5 năm 2001. Hai người con chung đã trưởng thành, việc sống với ba hay mẹ là do sự lựa chọn của con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Tài sản chung, nợ chung không có nên không xét. Án phí hôn nhân sơ thẩm do nguyên đơn chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và xét yêu cầu của nguyên đơn được trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an P, Quận E thì ông Nguyễn Thanh T có đăng ký thường trú tại địa chỉ số D 1, Phường A, Quận E và thực tế cư trú từ ngày 03 tháng 5 năm 1999 cho đến nay. Như vậy, tại thời điểm Tòa án thụ lý, bị đơn cư trú tại Quận E nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Trích lục kết hôn số 323/TLKH-BS ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E thì bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 031/1998 ngày 25 tháng 9 năm 1998 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E. Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T là tự nguyện và hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà K thừa nhận quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp với nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bên cạnh đó, ông T chơi cờ bạc, nợ nần nhiều, bà K đã nhiều lần trả nợ cho ông T, khuyên ông T bỏ cờ bạc, nhưng không có kết quả. Đến nay, bà K không còn khả năng trả nợ thay cho ông T nữa. Bà và ông T đã ly thân gần 02 năm. Bà xác định không còn tình cảm với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Ông Nguyễn Thanh T được Toà án triệu tập hợp lệ để làm việc, hoà giải, xét xử, nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có lời trình bày, chứng tỏ ông T không muốn hoà giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ.

Theo Biên bản của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E lập ngày 14 tháng 8 năm 2023 về việc cung cấp thông tin ly hôn của ông Nguyễn Thanh T và bà Phạm Thị K thì ông T và bà K có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 031/1998 ngày 25 tháng 9 năm 1998 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E. Hiện tại, ông T và bà K không còn sống chung với nhau tại địa chỉ số D 1, Phường A, Quận E. Tại địa chỉ này là nhà của cha, mẹ, anh, chị, em của ông T.

Từ đó có thể thấy tình trạng hôn nhân giữa bà K và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K.

[2.2] Về con chung:

Căn cứ vào Bản sao Giấy khai sinh số 326/GKS-BS do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E cấp ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Nguyễn Thanh T1 (nam), sinh ngày 22 tháng 01 năm 1998; Bản sao Giấy khai sinh số 327/GKS-BS do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E cấp ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Nguyễn Thanh H (nữ), sinh ngày 06 tháng 5 năm 2001. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Thị Thanh H là con chung của bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T.

Hai người con chung tên Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Thanh H đã trưởng thành, nên việc sống với cha hay mẹ là do sự lựa chọn của các con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Phạm Thị K tự khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Thanh T vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Phạm Thị K tự khai không có nợ chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự của bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Thanh T vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bà Phạm Thị K chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 87/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị K.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị K được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

    Về con chung: Hai người con chung tên Nguyễn Thị Thanh H (nữ), sinh ngày 06 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thanh T1 (nam), sinh ngày 22 tháng 01 năm 1998 đã trưởng thành, nên việc sống với cha hay mẹ là do sự lựa chọn của các con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về tài sản chung: Bà Phạm Thị K tự khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Thanh T vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  3. Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Phạm Thị K tự khai không có nợ chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự của bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Thanh T vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Phạm Thị K chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0010644 ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà K đã nộp đủ tiền án phí

  5. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị K và ông Nguyễn Thanh T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 5;
  • - TAND Tp HCM;
  • - THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 165/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn - Mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger