Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Đức Danh
  2. Ông Nguyễn Văn Tòng

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T - Sinh năm 1988

CCCD số: [...]

Nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi tạm trú: Thôn Đ, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Tiến T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2. Có chồng là Lê Đình N. Có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thị xã N, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa trong quá trình sinh sống tại nhà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T2 ở thôn Đ, xã T, thị xã N, T biết bà T2 có một khoản tiền tiết kiệm cất giấu trong tủ quần áo ở trong phòng ngủ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền trên. Khoảng 13 giờ ngày 24/9/2024, lợi dụng lúc bà T2 đi làm, T mở cửa tủ lấy trộm số tiền 5.500.000 đồng (gồm 11 tờ tiền 500.000 đồng) để trong túi áo khoác màu trắng ở ngăn tủ có cánh gương và số tiền 26.000.000 đồng (Gồm các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng) để trong túi áo chống nắng màu đen ở ngăn tủ còn lại. Sau khi lấy được được tổng cộng 31.500.000 đồng, T xếp quần áo như cũ rồi đem toàn bộ số tiền trên chi tiêu cá nhân và đầu tư vào mua sắm qua app mua sắm nhưng bị mất hết.

Đến 09 giờ sáng ngày 02/10/2024, bà T2 kiểm tra phát hiện thấy mất toàn bộ số tiền nêu trên nên bà T2 nhờ chị Đỗ Thị H, sinh năm 1986, trú thôn Đ, xã T, thị xã N (con dâu bà T2) đến Công an xã T trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị T đã thỏa thuận, bồi thường toàn bộ số tiền 31.500.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T2; bà T2 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T.

Tại bản cáo trạng số 179/CT-VKSNS ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt được cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Bị hại tha thiết xin HĐXX miễn giảm hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi, nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/9/2024, tại thôn Đ, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Nguyễn Thị T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 31.500.000đ (ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) của mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị T2.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Bị cáo T đã lợi dụng lúc mẹ bị cáo đi vắng để lén lút chiếm đoạt tài sản của bà T2 là mẹ bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại là mẹ đẻ của bị cáo có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ vào tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có hoàn cảnh khó

khăn, bị cáo đang nuôi 04 người con chưa thành niên, không có thu nhập dẫn đến nảy sinh ý định phạm tội bộc phát. Bị cáo là con đẻ của bị hại, sau khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, xin lỗi bị hại. Bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa bị hại tha thiết xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mà nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, xử phạt tù bị cáo nhưng cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điều 6; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho U, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92; Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự. Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho

hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS TX Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HOÁ

Số: 52/2024/TB-TA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Nghi Sơn, ngày 20 tháng 12 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 165/2024/HSST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa có lỗi về đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung tại trang 04 dòng 12 từ dưới lên của Bản án đã ghi: “Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Khoản 1 Điều 173; Điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.”

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 165/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: uyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho U, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92; Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự. Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger