| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2024/HS-PT. Ngày 12/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương.
Bà Hoàng Thị Hải Hường.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Phương H, do có kháng cáo của bà Ngô Thị H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
*Bị cáo:
Họ và tên: Trần Phương H, sinh năm 1980; tên gọi khác: không có; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: căn 1611, Tòa R105, Khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Trần Huy T, sinh năm 1952; con bà: Lê Thị D, sinh năm 1955; có vợ: Lê Thị Kim S, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 06/9/2023 đến ngày 14/9/2023; hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
*Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có kháng cáo:
- Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1978. (có mặt).
Địa chỉ: số nhà D, ngõ B, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H1: Ông Trần Công T1- Luật sư Văn phòng L2- Đoàn Luật sư tỉnh B. (Có mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan:
- Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện thiết vị giao thông cơ giới Bắc Giang. (vắng mặt)
Địa chỉ: Đồi Chỉ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. - Ngân hàng Thương mại cổ phần T5 (T6). (vắng mặt).
Địa chỉ: số E L, phường H, quận H, Hà Nội.
1
- Chị Trần Thị Thanh H2, sinh 1980. (vắng mặt).
Địa chỉ: số A, xóm C, thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy H3, sinh năm 1997. (vắng mặt).
Địa chỉ: số nhà G, đường L, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2021, Trần Phương H nhờ bạn là chị Trần Thị Thanh H2, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đứng ra hợp đồng với Ngân hàng TMCP T5 chi nhánh H7 mua trả góp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6 BKS 30G-003.06, thời hạn trả góp theo hợp đồng là 72 tháng kể từ ngày 08/6/2021. Ngân hàng giữ giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H2 do Phòng CSGT Công an thành phố H cấp (bản gốc) và giao cho chị Hoa g biên nhận thế chấp xe ô tô biển số BKS 30G-003.06. Chị H2 giao cho H chiếc xe ô tô kèm theo giấy biên nhận thế chấp. Hàng tháng, H đưa tiền cho chị H2 để nhờ đóng tiền trả góp cho ngân hàng.
Đến tháng 8/2023, H phát hiện Giấy biên nhận thế chấp chiếc xe trên do ngân hàng cấp để lưu thông đã hết hạn nên nhờ chị H2 đến ngân hàng xin cấp lại. Sau đó, chị H2 thông báo cho H biết chiếc xe trên đã hết hạn bảo hiểm thân vỏ nên ngân hàng không cấp giấy thông hành mới; khi có bảo hiểm thân vỏ trong thời hạn 01 năm trở lên thì ngân hàng mới cấp giấy thông hành. Do không muốn mua bảo hiểm thân vỏ nên H nảy sinh ý định mua giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô được làm giả của chiếc xe trên để sử dụng khi tham gia giao thông.
Ngày 25/8/2023,Trần Phương H sử dụng tài khoản Facebook “Hải T2” tìm trên mạng xã hội thì thấy có một bài đăng về việc làm giấy tờ giả và kèm theo số điện thoại để ai có nhu cầu thì kết bạn Zalo. H sử dụng tài khoản Zalo tên “H” đăng ký số điện thoại 0936.161.xxx kết bạn với tài khoản “Mai Văn H4” đăng ký số điện thoại mà H4 thấy trên Facebook, hiện H4 không nhớ số điện thoại này. H4 nhắn tin đặt làm đăng ký xe ô tô giả với giá 1.200.000 đồng, khi nào nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe giả thì thanh toán tiền. Sau đó, H4 chụp và gửi qua Z cho người nàyhình ảnh giấy biên nhận thế chấp xe ô tô và giấy đăng ký xe mà ngân hàng đang giữ và gửi thông tin về địa chỉ nhà H4 để giao nhận. Đến buổi chiều ngày 30/8/2023, H4 nhận được 01 phong bì thư bên trong có đăng ký xe giả đã đặt mua do chị Nguyễn Lệ T3, sinh năm 1984, trú tại thôn H, xã C, huyện G, thành phố Hà Nội là nhân viên Bưu cục G giao cho. H4 nhận phong bì trên rồi chuyển khoản thanh toán cho chị T3 1.200.000 đồng. H4 kiểm tra thấy giấy đăng ký xe ô tô được làm giả có số 29 078999 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H2,địa chỉ: Xóm C, T, T, T/Trì, H8, biển số đăng ký 30G-003.06 (trùng khớp thông tin với giấy chứng nhận xe ô tô đang thế chấp tại ngân hàng). H4 để giấy đăng ký xe ô tô được làm giả này trong chiếc ví da để ở cốp phụ xe ô tô để xuất trình nếu bị Cơ quan chức năng kiểm tra khi tham gia giao thông.
Ngày 31/8/2023, H4 điều khiển xe ô tô BKS 30G-003.06 đi đến thành phố B gặp bạn bè và liên hoan. H4 gặp bạn là chị Ngô Thị H1, sinh năm 1979, trú tại
2
phường D, thành phố B. Do quen biết nhau nên chị H1 đặt vấn đề với H4 để mượn chiếc xe ô tô BKS 30G-003.06 sử dụng đến ngày 07/9/2023 thì H4 đồng ý. H4 giao xe cho chị H1 và dặn giấy tờ xe để tại cốp phụ phía trước xe ô tô và có hạn đăng kiểm đến ngày 31/8/2023, nếu Công an kiểm tra thì nói do nghỉ lễ 2/9 nên chưa đi đăng kiểm được. Đến buổi tối ngày 05/9/2023, chị H1 gọi điện cho H4 nói có cần giúp đăng kiểm xe ô tô hay không để chị H1 làm giúp vì nhà chị H1 gần Trung tâm đăng kiểm. H4 đồng ý và bảo chị H1 ứng tiền để làm thủ tục đăng kiểm, khi nào H4 về thành phố B lấy xe thì sẽ trả lại tiền cho chị H1.
Buổi sáng ngày 06/9/2023, chị Ngô Thị H1 điều khiển xe ô tô BKS 30G-003.06 đến Trung tâm Đ ở phường X, thành phố B để làm thủ tục đăng kiểm. Chị H1 lấy trong cốp xe ô tô và xuất trình 01giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật, 01 đăng ký xe ô tô số 29 078999 mang tên Trần Thị Thanh H2 thì bị anh Nguyễn Duy H3 là nhân viên nghiệp vụ Trung tâm đăng kiểm phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô được làm giả nên thông báo cho Công an thành phố B để xử lý và giao nộp 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 1170423 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 078999.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B triệu tập Trần Phương H để làm việc thì H xin đầu thú và khai nhận về hành vi đặt mua và sử dụng đăng ký xe ô tô giả và giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, lắp sim số 0939.161.980.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đăng ký xe ô tô số 29078999 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H2 do Trung tâm Đ thu giữ. Kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Phôi, hình dấu trên “Chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H2 cần giám định là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.
- Chữ ký mang tên Đức Việt L trên Chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H2 cần giám định so với chữ ký của Đào Việt L1 mẫu lưu trữ tại Phòng K - Công an tỉnh B là không phải do cùng một người ký ra”
Cơ quan điều tra đã cho bị can Hải quan sát giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 078999, biển số BKS 30G-003.06 mang tên chủ xe Trần Thị Thanh H2 đã thu giữ. Kết quả, H xác định đây là giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả do H đặt mua và sử dụng.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax thu giữ của Trần Phương H. Kết quả phát hiện còn lưu tin nhắn zalo liên quan đến việc trao đổi đặt mua đăng ký xe ô tô BKS 30G-003.06 giả và hình ảnh thể hiện giao dịch H chuyển khoản cho chị T3 1.200.000 đồng vào hồi 17 giờ 27 phút ngày 30/8/2023.
Ngày 13/9/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nguồn gốc xe ô tô BKS 30G-003.06, kết quả ông Nguyễn Trung T4 – Giám đốc kinh doanh Ngân hàng
3
TMCP T5 chi nhánh H7, Trung tâm Bán Miền Bắc 1 xác định ngày 08/6/2021, chị Trần Thị Thanh H2 làm hợp đồng mua trả góp chiếc xe trên với Ngân hàng, hạn mức vay là 490.000.000 đồng, thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 09/6/2021 đến 08/6/2027. Tính đến ngày 14/6/2023 thì giấy biên nhận mà ngân hàng cấp cho chị H2 đã hết hiệu lực. Đến nay thì chị H2 chưa bị chậm lãi và tài sản trên không thuộc diện bị thu hồi. Quá trình làm việc, ngân hàng cung cấp 01 hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô (bản photo) đề ngày 08/6/2021.
Đối với người mà H khai nhận đã nhờ làm giả 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số, biển số đăng ký 30G – 003.06 qua mạng xã hội. H khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người này và không còn lưu giữ thông tin gì. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Bưu cục G nhưng không lưu trữ thông tin gì có liên quan đến đơn hàng này nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chị Ngô Thị H1 được H nhờ đi đăng kiểm chiếc xe ô tô BKS 30G – 003.06 nhưng không biết giấy chứng nhận đăng ký xe là giả nên không cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 266/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Phương H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
*Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt: bị cáo Trần Phương H 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/02/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án số 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 04/3/2024 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang có thông báo số 01/TB-TA trả lại đơn kháng cáo vì xét thấy nội dung đơn kháng cáo của chị H1 đã vượt quá phạm vi và quyền kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
4
Ngày 11/3/2024 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã ra quyết định giải quyết khiếu nại số 03/2024/QĐ-GQKN của chị Ngô Thị H1, giữ nguyên thông báo số 01/TB-TA trả lại đơn kháng cáo.
Ngày 26/3/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định số 04/QĐ-GQKN chấp nhận khiếu nại của chị Ngô Thị H1, hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 03/2024/QĐ- GQKN ngày 11/03/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang phải tiếp nhận đơn kháng cáo và làm thủ tục kháng cáo của chị Ngô Thị H1 đối với phần nội dung vụ án và phần nhận định của Tòa án trong bản án số 15/2024/HSST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
*Tại phiên toà phúc thẩm chị Ngô Thị H1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày như sau: chị kháng cáo toàn bộ bản án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang. Bản án vi phạm tố tụng, kết luận và quyết định của bản án không khách quan ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của chị. Bản chất là việc bị cáo H bán xe cho chị H1 chứ không phải là cho mượn xe. Toà sơ thẩm có vi phạm tố tụng là không triệu tập người liên quan là chị Nguyễn Thị Thanh H5 là chủ xe, Ngân hàng T5 là ngân hàng cho bị cáo thế chấp xe và có tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án.
*Bị cáo Trần Phương H không có kháng cáo nhưng bị kháng cáo theo nội dung kháng cáo của bà Ngô Thị H1 trình bày như sau: bị cáo không đồng ý với nội dung kháng cáo của bà H1, hành vi vi phạm của bị cáo bị cáo xác nhận án sơ thẩm xét xử là đúng, không oan sai. Chị H1 trình bày là không đúng. Bị cáo không có bán xe mà là bị cáo vay tiền của chị H1 nhưng chị H1 yêu cầu bị cáo phải cầm cố xe ô tô để đảm bảo khoản vay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của án, tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy Tòa án sơ thẩm đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị H1. Hủy bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đối với Trần Phương H để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết theo thẩm quyền.
- Án phí hình sự phúc thẩm: chị Ngô Thị H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Ngô Thị H1 trình bày tranh luận: nhất trí với đề nghị của Đại diện viện kiểm sát, việc chị H1 cung cấp tài liệu, chứng cứ mơi phù hợp với việc mua bán xe, việc mua bán đã hoàn thành. Bị cáo trình bày vay tiền chị H1 thì để Cơ quan điều tra điều tra làm rõ tiếp. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
5
Bị cáo Trần Phương H tranh luận: bị cáo không làm giấy tờ giả để bán xe cho chị H1. Các tin nhắn của bị cáo với chị H1 vẫn thể hiện việc bị cáo nhờ chị H1 đi đăng kiểm hộ, không có việc bị cáo bán xe cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đối đáp tranh luận: việc H bán xe hay không bán xe sẽ được điều tra lại, không thể làm rõ và khắc phục tại cấp phúc thẩm được.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ và cho bị cáo có thời gian để trả tiền chị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: ngày 28/02/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án số 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 04/3/2024 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang có thông báo số 01/TB-TA trả lại đơn kháng cáo vì xét thấy nội dung đơn kháng cáo của chị H1 đã vượt quá phạm vi và quyền kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngày 11/3/2024 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã ra quyết định giải quyết khiếu nại số 03/2024/QĐ-GQKN của chị Ngô Thị H1, giữ nguyên thông báo số 01/TB-TA trả lại đơn kháng cáo.
Ngày 26/3/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định số 04/QĐ-GQKN chấp nhận khiếu nại của bà Ngô Thị H1, hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 03/2024/QĐ- GQKN ngày 11/03/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang phải tiếp nhận đơn kháng cáo và làm thủ tục kháng cáo của chị Ngô Thị H1 đối với phần nội dung vụ án và phần nhận định của Tòa án trong bản án số 15/2024/HSST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang. Do đó, đơn của chị H1 được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
[2]. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP T5 chi nhánh H7 và chị Trần Thị Thanh H2 đã được toà cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trần Phương H:
Căn cứ Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án tại cấp sơ thẩm xác định: ngày 25/8/2023, Trần Phương H đã đặt mua trên mạng xã hội 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 29 078999 mang tên chủ xe Trần
6
Thị Thanh H2 biển kiểm soát 30G-003.06 với giá 1.200.000 đồng mục đích để sử dụng xuất trình khi tham gia giao thông do giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản gốc) đã thế chấp cho ngân hàng và đã hết thời hạn để lưu thông.
Ngày 06/9/2023, H nhờ chị Ngô Thị H1 mang xe ô tô BKS 30G-003.06 đến Trung tâm Đ1 ở thành phố B để giúp đăng kiểm xe thì bị nhân viên Trung tâm đăng kiểm phát hiện đăng ký xe ô tô là giả nên đã báo cho Công an thành phố B. Kết quả giám định xác định giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do H đặt mua và sử dụng là giả được làm bằng phương pháp in phun màu. Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức, xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và của cá nhân, bị cáo Trần Phương H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nhận định là đúng, người đúng tội.
Bản án sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 11/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã xét xử bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Xét nội dung kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Huỷ bản án sơ thẩm và trả hồ sơ để điều tra lại, HĐXX thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Ngô Thị H1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và xuất trình giấy đặt cọc mua xe, giấy bán xe do Trần Phương H viết ngày 21/6/2023 với nội dung có bán cho chị H1 chiếc xe Mada, màu đen, biển số 30G. 00306, đăng ký mang tên Trần Thị Thanh H2 với giá 600.000.000đồng và chị H1 đặt số tiền là 250.000.000đồng. Trong thời gian 03 tháng bàn giao xe cho chị H1.
Đến ngày 28/8/2023 bị cáo H viết giấy bán xe với nội dung: “ngày 28/8/2023 tôi Trần Phương H bán cho chị Ngô Thị H1, địa chỉ số nhà D, đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang chiếc xe mada 6, màu đen, BKS: 30G.00306 với giá thoả thuận. Giờ chị H1 đặt cho tôi số tiền là 350.000.000đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) tôi đã nhận đủ số tiền trên và bàn giao xe cho chị H1. Tôi xin cam đoan chiếc xe trên hoàn toàn là của tôi nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Về nội dung này, chị H1 không cung cấp cho Cơ quan điều tra khi điều tra vụ án, bị cáo, chị H1 cũng như các đương sự khác cũng không có ai trình bày về nội dung mua bán xe nêu trên, việc xuất hiện tình tiết mới tại cấp phúc thẩm đã làm thay đổi bản chất vụ án.
Bị cáo H đang thế chấp xe và giấy chứng nhận đăng ký xe đang được giữ tại ngân hàng, nhưng bị cáo lại làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe để làm thủ tục bán xe cho chị H1 để lấy tiền của chị H1 là có dấu hiệu của tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự, nếu bị cáo có dấu hiệu về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị H1 số tiền 500.000.000đ (theo chị H1 và bị cáo khai tại phiên toà phúc thẩm) thì khung hình phạt của tội “sử dụng giấy tờ giả của cơ quan tổ chức” cũng có sự thay đổi. Toà cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng
7
cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà xét xử bị cáo H ở khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là chưa đủ cơ sở và chưa làm rõ hết bản chất của vụ án, nhưng đây không phải là lỗi của Toà cấp sơ thẩm.
Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình điều tra cơ quan điều tra đã làm việc, lấy lời khai của chị H1, bị cáo H, nhưng cả bị cáo và chị H1 đều khai nguồn gốc chiếc xe là do chị H1 mượn của H, không có lời khai nào chị H1 và bị cáo trình bày về việc H đã thoả thuận bán chiếc xe trên cho chị H1, chị H1 không giao nộp tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi của H nên cũng cần xem xét về hành vi khai báo không đúng sự thật của bị cáo và chị H1, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng và làm ảnh hưởng đến bản chất vụ án, ảnh hưởng đến việc xem xét tội danh, trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị xem xét hành vi khai báo không đúng sự thật của bị cáo và chị H1.
Do có tình tiết mới, có dấu hiệu của việc bỏ lọt hành vi phạm tội, có dấu hiệu bị cáo phạm tội với khung hình phạt nặng hơn bản án sơ thẩm đã tuyên, việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do vậy kháng cáo của chị H1 đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Xét thấy xuất hiện tình tiết mới ở cấp phúc thẩm và những tình tiết mới này cấp phúc thẩm không thể làm rõ khắc phục, bổ sung được, cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang để điều tra lại.
[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: do hủy án sơ thẩm để điều tra giải quyết lại vụ án nên bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a, b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Hủy bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đối với Trần Phương H để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết theo thẩm quyền.
- Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị ngô Thị H6 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
8
| Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
Trần Thị Hà
10
Bản án số 165/2024/HS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 165/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Trần Phương H, sinh năm 1980; tên gọi khác: không có; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: căn 1611, Tòa R105, Khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Trần Huy T, sinh năm 1952; con bà: Lê Thị D, sinh năm 1955; có vợ: Lê Thị Kim S, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 06/9/2023 đến ngày 14/9/2023; hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
