Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 165/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thọ và bà Lê Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 03/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2024/HSST-QĐ ngày 12/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Minh G, sinh ngày 14/6/1989 tại TP ., tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: 4 L, khu phố N, phường E, TP ., tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông (Không xác định) và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1964; vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 30/8/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 22/10/2010; Ngày 03/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 10/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp bản án với bản án ngày 03/3/2015, chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2018; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/4/2019, Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái quy định nhưng chưa gây hậu quả”, số tiền phạt 3.000.000 đồng; Ngày 30/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 25/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 26/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam N1, Cục C1, Bộ C2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Đỗ Châu L, sinh năm 1989 “Vắng mặt”.

Nơi cư trú: 296/91 L, Tổ A, thôn N, phường V, TP ., tỉnh Khánh Hòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH T3

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Châu Thị C – Giám đốc “vắng mặt”

    Địa chỉ: B N, phường T, TP., Bình Định.

  2. Chị Mạnh Thị Tuyết A, sinh năm: 1991 “vắng mặt”

    Địa chỉ: 296/91 Lương Định Của, Tổ 15, thôn Ngọc Hội, phường Vĩnh Ngọc, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà

  3. Anh Võ Thanh T, sinh năm: 1988 “vắng mặt”

    Địa chỉ: Thôn Vĩnh Lợi 3, xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

  4. Chị Nguyễn Thị Diệu T1, sinh năm: 1984 “vắng mặt”

    Địa chỉ: D P, quận N, TP .

  5. Nguyễn Hữu Ngọc H1, sinh năm: 1982 “vắng mặt”

    Địa chỉ: A D, phường X, TP ., Thừa Thiên H2

- Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị Minh N, sinh năm: 2000 “vắng mặt”

Địa chỉ: Tổ C, khu phố D, phường Q, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 26/8/2020, Võ Thanh T vào trang Facebook “Hội lái xe Bình Định” để xin việc làm và gửi hình chụp giấy phép lái xe hạng A1 của mình vào các bài đăng của trang này. Trong thời gian này, Phạm Minh G cũng truy cập vào trang Facebook “Hội lái xe Bình Định” và lấy được thông tin giấy phép lái xe A1 của anh T. Gấm liên hệ với trang Facebook “Chuyên làm tất cả các loại giấy tờ”, cung cấp thông tin trên giấy phép lái xe của anh T và ảnh chân dung của mình để đặt làm giấy phép lái xe giả mang tên Võ Thanh T. Khoảng 3 ngày sau, shipper giao hàng đem giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Võ Thanh T đến nhà giao cho G, G trả số tiền 500.000 đồng. Sau đó, G sử dụng lai lịch là Võ Thanh T đến thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tiếp cận người có xe ô tô chạy dịch vụ để tìm cách chiếm đoạt. Đầu tháng 10/2020, G thuê ở trọ tại đường số A, khu đô thị L, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Gấm sử dụng ứng dụng G1 đặt thuê xe hiệu Vios biển số 79A-265.33 của Đỗ Châu L. Trong quá trình di chuyển, G làm quen với anh L và xưng tên Võ Thanh T. Gấm dặn khi nào có nhu cầu thuê xe ô tô thì sẽ liên lạc với anh L.

Khoảng 12 giờ ngày 21/10/2020, Phạm Minh G đến nhà trọ của anh L ở đường số A, Khu đô thị L, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, thuê anh L lái xe chở ra thành phố Q, tỉnh Bình Định với giá 2.000.000 đồng. Anh L đồng ý và lái xe ô tô 79A-265.33 chở G đi. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai đến thành phố Q, anh L chở G đến khách sạn S1 địa chỉ B X, phường T, thành phố Q để thuê phòng trọ. Gấm dùng giấy phép lái xe mô tô “giả” hạng A1 (đã đặt mua ở trên) đưa cho chị Nguyễn Thị Minh N (Nhân viên lễ tân khách sạn) làm thủ tục thuê phòng 409 cho cả hai lưu trú. Đến 00 giờ 30 phút ngày 22/10/2020, G nói dối anh L cho mượn 1.000.000 đồng, một điện thoại di động hiệu OPPO A52 và xe ô tô 79A-265.33 đi mua thẻ cào điện thoại để nạp tiền vào tài khoản game nên anh L đưa tiền, điện thoại, chìa khóa xe của mình cho G. Gấm điều khiển xe ô tô 79A-265.33 đi đến thành phố Đà Nẵng, thuê một khách sạn (không rõ địa chỉ) trên đường N, thành phố Đà Nẵng để lưu trú. Do xe ô tô hết xăng, G không có tiền đổ xăng nên để chìa khóa xe ô tô lại quầy lễ tân và bỏ đi. Gấm đem điện thoại OPPO A52 bán cho một tiệm điện thoại tại thành phố Đà Nẵng (không nhớ địa chỉ) được 1.000.000 đồng. Sau đó, G đón tàu đi ra Hà Nội chơi, tiêu xài hết số tiền đã bán điện thoại.

Đến 08 giờ ngày 22/10/2020, anh L thức dậy không thấy G quay lại khách sạn nên mượn điện thoại của chị N gọi cho G nhưng không liên lạc được nên đến Công an phường T trình báo sự việc.

Công an phường T tiến hành kiểm tra khách sạn S2 tạm giữ các giấy tờ của Phạm Minh G tại phòng 409 của khách sạn gồm: 02 giấy mua bán xe máy; 01 giấy nộp tiền mặt tại Ngân hàng B; 01 giấy rút tiền tại Ngân hàng S3 mang tên Phạm Minh G và Giấy phép lái xe mang tên Võ Thanh T để tại quầy lễ tân.

Sau khi G bỏ đi, đến khoảng 20 giờ ngày 22/10/2020, một người nam (Không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook “Hảo Hảo” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Nguyễn Thị S” trao đổi với chị Nguyễn Thị Diệu T1 (Giám đốc Công ty TNHH D địa chỉ C T, thành phố Đà Nẵng) về việc ký gửi xe ô tô 79A-265.33 cho Công ty của chị T1 để cho thuê xe tự lái trong thời hạn 03 tháng với số tiền 10.000.000 đồng/tháng. Chị T1 đồng ý và yêu cầu người quản lý xe ô tô trên đến gặp mặt để ký hợp đồng. Người này viện lý do đang đi công tác không có mặt tại Đà Nẵng nên hướng dẫn chị T1 đến khách sạn (không rõ địa chỉ) nằm trên đường N, thành phố Đà Nẵng gặp nhân viên lễ tân khách sạn để lấy xe, khi nào đi công tác về người này sẽ đến gặp chị T1 ký hợp đồng. Chị T1 đồng ý, đến khách sạn lấy xe ô tô 79A-265.33 đem về Công ty TNHH D và trả 30.000.000 đồng tiền thuê xe ô tô 79A-265.33 cho một người đàn ông không rõ lai lịch theo hướng dẫn của người cho thuê xe.

Chị T1 nhận xe kinh doanh được 02 tháng. Đến ngày 08/12/2020, chị T1 cho anh ruột là Nguyễn Hữu Ngọc H1 mượn xe ô tô 79A-265.33 sử dụng. Ngày 20/12/2020, bị hại L kiểm tra định vị, phát hiện xe ô tô 79A-265.33 đang ở Huế nên báo Công an thành phố H tạm giữ xe và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Q điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Phạm Minh G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập.

Ngày 24/11/2020, Phòng K - Công an tỉnh B kết luận số 315 kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1 số: [...] do Sở G2 cấp ngày 30 tháng 08 năm 2016, ghi họ tên Võ Thanh T, sinh ngày 25/12/1988, nơi cư trú: X. M, H. Р, Т. В là giả.

Ngày 28/12/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

  • 01 xe ô tô hiệu Toyota Vios màu trắng, biển số 79A-265.33, số máy 2NRX500531, số khung RL4B23F31K5076436, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 80%, trị giá là: 460.000.000 đồng.

  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO A52 màu đen số imei 1: 860354049699093, số imei2: 86035404969085, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 90%, trị giá là: 4.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe ô tô hiệu Toyota – Vios màu trắng biển kiểm soát 79A-265.33, ngày 24/12/2020; 01 Giấy mua bán xe máy giữa Cửa hàng xe máy S và ông Phạm Minh G; 01 Giấy mua bán xe máy giữa bà Nguyễn Thị Lệ T2 và ông Phạm Minh G; 01 Giấy nộp tiền mặt tại Ngân hàng B; 01 Giấy rút tiền tại Ngân hàng S3 mang tên Phạm Minh G.- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Võ Thanh T giả; 01 USB.

Ngày 04/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe ô tô biển số 79A-265.33 cho bị hại Đỗ Châu L.

Về dân sự: Bị hại Đỗ Châu L và bà Mạnh Thị Tuyết A yêu cầu Phạm Minh G bồi thường số tiền 6.000.000 đồng.

- Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSQN ngày 01/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Minh G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Minh G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 năm tù đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX tổng hợp của hai tội đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Phạm Minh G bồi thường cho anh Đỗ Châu L 6.000.000 đồng.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 08 năm 2020 bị cáo Phạm Minh G đặt làm giả giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Võ Thanh T, sau đó đến thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tiếp cận người chạy xe ô tô dịch vụ để tìm cách chiếm đoạt. Ngày 21/10/2020, bị cáo thuê anh Đỗ Châu L điều khiển xe ô tô biển số 79A-265.33 chở ra thành phố Q, tỉnh Bình Định với giá 2.000.000 đồng. Khi đến thành phố Q, bị cáo dùng giấy phép lái xe mô tô giả mang tên Võ Thanh T đưa cho chị Nguyễn Thị Minh N là nhân viên của khách sạn S1 địa chỉ B X, phường T, thành phố Q để thuê phòng cho bị cáo và anh L lưu trú. Đến 00 giờ 30 phút ngày 22/10/2020, bị cáo nói dối anh L cho bị cáo mượn 1.000.000 đồng, điện thoại di động hiệu OPPO A52 và xe ô tô biển số 79A-265.33 để đi mua card điện thoại, do tin tưởng bị cáo nên anh L đồng ý cho bị cáo mượn số tài sản nói trên. Sau khi nhận được tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của anh L 1.000.000 đồng, 01 điện thoại hiệu OPPO A52 có trị giá 4.000.000 đồng, 01 xe ô tô Vios biển số 79A-265.33 có trị giá 460.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 465.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ sức khỏe, đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những hành vi vi phạm pháp luật nhưng do tham lam, xem thường pháp luật và tài sản hợp pháp của người khác nên bị cáo đã sử dụng giấy phép lái xe giả mang tên Võ Thanh T để thuê phòng 409 của Khách sạn S1 lưu trú, dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại Đỗ Châu L, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh L là 465.000.000 đồng. Bị cáo là người tái phạm, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội do cố ý, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Minh G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Bị cáo Phạm Minh G có nhân thân xấu.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Minh G đã tái phạm, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Minh G khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, vì vậy Hội đồng xét xử cũng xem xét xử phạt bị cáo một mức án có lý có tình để bị cáo an tâm cải tạo tốt. Bị cáo phạm nhiều tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Anh Đỗ Châu L yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng cộng 6.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh L số tiền trên nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho anh L 6.000.000 đồng.

Công ty TNHH T3 không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe giả mang tên Võ Thanh T và 01 USB lưu trữ đoạn hình ảnh của bị cáo tại Khách sạn S1, đây là chứng cứ của vụ án nên lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị Diệu T1, Nguyễn Hữu Ngọc H1 sử dụng xe Toyota-Vios biển số 79A-265.33 nhưng không biết xe do G phạm tội mà có, không bàn bạc giúp sức gì cho G nên không phạm tội.

Đối với đối tượng không rõ lai lịch đã giao xe ô tô biển số 79A-265.33 cho chị Nguyễn Thị Diệu T1 thuê lấy 30.000.000 đồng, nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng nên không có cơ sở xử lý, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”); Đ e khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”); Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh G 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Minh G có nghĩa vụ bồi thường cho anh Đỗ Châu L 6.000.000 (Sáu triệu) đồng.

  4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

8. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

8.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

8.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Định;

- VKSND tỉnh Bình Định;

- VKSND Tp. Quy Nhơn;

- Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;

- CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;

- CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn;

- Nhà tạm giữ CA TP. Quy Nhơn;

- Trại giam Nam Hà, Cục C10, Bộ Công An;

- Đương sự;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 165/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng tháng 08 năm 2020 bị cáo Phạm Minh G đặt làm giả giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Võ Thanh T sau đó đến thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tiếp cận người chạy xe ô tô dịch vụ để tìm cách chiếm đoạt. Ngày 21/10/2020, bị cáo thuê anh Đỗ Châu L điều khiển xe ô tô biển số 7-265.33 chở ra thành phố Q, tỉnh Bình Định với giá 2.000.000 đồng. Khi đến thành phố Quy Nhơn, bị cáo dùng giấy phép lái xe mô tô giả mang tên Võ Thanh Tùng đưa cho chị Nguyễn Thị Minh N là nhân viên của khách sạn S địa chỉ 28S, phường T thành phố Q để thuê phòng cho bị cáo và anh L lưu trú. Đến 00 giờ 30 phút ngày 22/10/2020, bị cáo nói dối anh L cho bị cáo mượn 1.000.000 đồng, điện thoại di động hiệu OPPO A52 và xe ô tô biển số 79A-265.33 để đi mua card điện thoại, do tin tưởng bị cáo nên anh L đồng ý cho bị cáo mượn số tài sản nói trên. Sau khi nhận được tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của anh L 1.000.000 đồng, 01 điện thoại hiệu OPPO A52 có trị giá 4.000.000 đồng, 01 xe ô tô Vios biển số 7-265.33 có trị giá 460.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger