|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày: 05/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Danh
Ông Nông Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 157/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn P; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: N; Sinh năm: 1993, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Con ông: Quàng Văn K – Sinh năm 1965 và con bà: Lò Thị Á – Sinh năm 1972 (Đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Cà Văn X – Sinh năm 1974 – Địa chỉ: Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 18/3/2024, Quàng Văn P đi bộ từ nhà đến đầu bản N, xã P, huyện Đ. Tại đây, P gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 2.000.000 đồng. Mua xong, P cầm gói ma túy ở tay rồi đi bộ về nhà. Từ ngày 18/3/2024 đến ngày 20/3/2024, P đã nhiều lần lấy Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít, bật lửa và mảnh giấy bạc dùng xong P vứt đi. Số H còn lại P cất giấu trong kho dưới gầm sàn nhà P. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, P đang ở nhà thì có Cà Văn X là người cùng bản đến hỏi mua 40.000 đồng Heroine. P đồng ý nhận tiền rồi lấy Heroine mua từ ngày 18/3/2024 ra cấu một ít H đưa cho X. Mua xong, X cầm H đi đến khu vực bờ suối thuộc bản Na Hai, xã P sử dụng hết bằng hình thức hít.
Sau khi bán ma túy cho X, P lấy Heroine còn lại chia thành 06 gói mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Hồi 11 giờ 50 phút cùng ngày, khi P đang ở nhà tại bản N, xã P, huyện Đ thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của P đang cầm 02 gói nilon màu trắng và 04 gói nilon màu hồng, bên trong có các cục bột màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 22,15 gam.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 20/3/2024 đã xác định như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của Quàng Văn P có khối lượng là 22,15 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 582/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Quàng Văn P có khối lượng 22,15 gam là chất ma túy: Loại Heroine. H1 lại đối tượng giám định và toàn bộ bao bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản kết luận giám định số 596/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 20.000 đ (Hai mươi nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật. H1 lại toàn bộ mẫu vật gửi đến giám định.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKSHĐB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn P về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 12 năm 03 tháng tù đến 13 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 19,5 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định, 02 mảnh nilon màu trắng và 04 mảnh nilon màu hồng. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 40.000 đồng do phạm tội mà có.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên. Bị cáo có ý kiến xin được miễn toàn bộ án phí HSST.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Quàng Văn P xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định:
Hồi 11 giờ 50 phút ngày 20/3/2024, tại nhà của mình thuộc bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Quàng Văn P bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang tại tay phải của P đang cầm 06 gói Heroine có tổng khối lượng là 22,15 gam. P tàng trữ Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời. Trước đó P đã bán 01 gói Heroine cho Cà Văn X và thu được số tiền 40.000 đồng. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do P mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 35 tuổi (không biết tên và địa chỉ) ở khu vực đầu bản N, xã P, huyện Đ với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...i) Heroine, C, Methamphetamine, Amthetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.”
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bản lẻ kiếm lời của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
[3.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
[3.3] Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được bố mẹ nuôi cho học hết 6/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Bị cáo chưa có vợ con, bị cáo sử dụng ma túy sử năm 2020 cho đến nay.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo có nghề nghiệp là làm ruộng không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo từ 12 năm 03 tháng tù đến 13 năm tù. Hội đồng xét xử thấy là chưa phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên không chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Số Heroine bị thu giữ của Bị cáo có khối lượng là 22,15 gam, đã gửi giám định hoàn lại 19,5 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Đối với 02 mảnh nilon màu trắng và 04 mảnh nilon màu hồng dùng để gói ma túy là công cụ dùng vào việc phạm tội và là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Đối với số tiền 40.000 đồng là tiền Phương bán ma túy cho X mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[8] Các vấn đề khác:
Người có nghĩa vụ liên quan anh Cà Văn X có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292/BLTTHS quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 35 tuổi (Không biết tên, địa chỉ) quá trình điều tra không xác minh, làm rõ được. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với Cà Văn X đã mua Heroine của Quàng Văn P và đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng Heroine. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ-XPHC ngày 31/5/2024 đối với Xương với hình thức phạt cảnh cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ cận nghèo, bị cáo xin được miễn án phí HSST nên HĐXX miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn P phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 20/3/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 19,5 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu trắng và 04 mảnh nilon màu hồng.
Tịch thu sũng quỹ Nhà nước số tiền 40.000 đồng của Bị cáo Quàng Văn P phạm tội mà có. (Đã thu)
(Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yên |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 12 năm tù
