|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02-7-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 146/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số E D ct, M, O, Canada. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T1 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/3/1998. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận với nhau được đến năm 2017 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống và trong công việc làm ăn nên vợ chồng đã nhiều lần xảy ra tranh cãi và bất hòa với nhau. Hiện tại chị T1 đã sang sinh sống cùng với con trai lớn tại Canada từ năm 2017 và anh chị đã ly thân nhau từ đó đến nay, không ai còn quan tâm và trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể đạt được, anh muốn giải phóng cho hai bên nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1.
Về con chung: Anh và chị T1 có hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 16/12/1998 và Nguyễn Văn K, sinh ngày 25/11/2007. Hiện nay cháu Việt A đã trưởng thành, không cần phải nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh và chị T1 thống nhất đề nghị anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh T và chị T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh T xin tự giải quyết với chị T1 về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn ly hôn của bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 (đã được giám định chữ ký theo Kết luận giám định số 1726/KL-KTHS của Phòng K1 Công an thành phố H ngày 14/6/2024) trình bày:
Chị thống nhất với anh Nguyễn Văn T về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị thống nhất với lời khai của anh T: Chị và anh T có hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 16/12/1998 và Nguyễn Văn K, sinh ngày 25/11/2007. Hiện nay cháu Việt A đã trưởng thành, không cần phải nuôi dưỡng. Chị T1 đề nghị giao con chung là cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T1 xin tự giải quyết với anh T về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh chị giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện, bản tự khai và không có sự thay đổi nội dung nào khác.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn anh Nguyễn Văn T và bị đơn chị Nguyễn Thị T1 đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/3/1998 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Hiện nay cháu Việt A đã trưởng thành, không phải nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 25/11/2007 cho anh T nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh T xin tự giải quyết với chị T1 nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung: Anh T xin tự giải quyết với chị T1, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 là công dân Việt Nam hiện nay đang ở nước ngoài (Canada), nguyên đơn anh Nguyễn Văn T hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T, bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 vắng mặt nhưng đều có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/3/1998, theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống và trong công việc làm ăn nên vợ chồng đã nhiều lần xảy ra tranh cãi và bất hòa với nhau. Chị T1 đã sang sống cùng với con trai lớn tại Canada từ năm 2017 và anh chị đã ly thân nhau từ đó đến nay. Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đều thống nhất, thỏa thuận ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.
[4] Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 đều xác nhận có hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 16/12/1998 và Nguyễn Văn K, sinh ngày 25/11/2007. Xét thấy, cháu Nguyễn Việt A đã trưởng thành, không cần phải nuôi dưỡng. Cháu Nguyễn Văn K có nguyện vọng được ở với anh T, anh T và chị T1 đều thỏa thuận, thống nhất anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc thỏa thuận nuôi con của anh T và chị T1 không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Văn K cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn T xin tự giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung với chị Nguyễn Thị T1, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn T xin tự giải quyết với chị Nguyễn Thị T1 về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị T1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 25/11/2007 cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn T xin tự giải quyết với chị Nguyễn Thị T1, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn T xin tự giải quyết với chị Nguyễn Thị T1, không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000393 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Văn T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Chị Nguyễn Thị T1 (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
Bản án số 165/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 165/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
