Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số : 165/2025/HSST

Ngày : 25/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Nguyễn Đình Thức;

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyên Khôi là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: NGUYỄN NGỌC H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2000 tại Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị Ánh H1, sinh năm 1976; Vợ: Đỗ U, sinh năm 2003; Con: có 01 con sinh năm 2021; Tiền án: Ngày 23/02/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo bản án số 04/2023/HS-ST (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/12/2023, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm, chưa xóa án tích); Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2024;
  2. Họ và tên: TRỊNH HÙNG D; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký cư trú: E Đ, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 2 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Trịnh Bính S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1994; Con: có ba (03) con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2024;
  3. Họ và tên: NGUYỄN THANH H2; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1994 tại Quảng Ngãi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký cư trú: 2 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 2 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Buôn bán quần áo; Con ông Nguyễn Tuyến N1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; Chồng: Trịnh Hùng D, sinh năm 1984; Con: Có một (01) con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/10/2024 đến ngày 23/01/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến ngày 05/6/2025 bị bắt tạm giam;
  4. Họ và tên: PHẠM THỊ NGỌC Y; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký cư trú: 93/47/7 L, khu phố I, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B Đ, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Bán hàng online; Con ông Phạm Văn N2, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thúy D1, sinh năm 1967; Chồng: Lê Nguyễn Hoàng Việt H3, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: Có hai (02) con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/10/2024;

(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Tá N3, sinh năm 1988, địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh;
  2. Ông Nguyễn Trí B, sinh năm 1981, địa chỉ: F L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  3. Bà H Châu N4, sinh năm 2003, địa chỉ: C chung cư R, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  4. Ông Vũ Văn Á, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi;
  5. Ông Lê Minh N5, sinh năm 1999, địa chỉ: C ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An;
  6. Ông Võ Quốc T, sinh năm 1984, địa chỉ: 1 Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  7. Ông Bùi Hữu R, sinh năm 1996, địa chỉ: C Liên khu 2 - A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
  8. Ông Võ Quốc K, sinh năm 2000, địa chỉ: 1 H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh;

(người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Hùng D cùng vợ là Nguyễn Thanh H2 sống chung tại nhà số B L, phường P, quận T do H2 đứng tên chủ sở hữu và cho Nguyễn Ngọc H ở nhờ tại phòng ngủ phía ngoài tầng 2 của căn nhà trên. Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2024, Trịnh Hùng D tổ chức ăn uống tại nhà trên cùng với Nguyễn Thanh H2, Nguyễn Ngọc H, Võ Tá N3 thì giữa D và H2 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên D gọi điện thoại nhờ Phạm Thị Ngọc Y, H Châu N4 đến hòa giải, Y và N4 đồng ý rồi Y rủ Võ Văn Á1 (bạn trai của Y) và Lê Minh N5 cùng đến nhà của D.

Khoảng 01 giờ ngày 21/10/2024, Y, Á1, Châu N4, N5 đến nhà của D. Lúc này, Y và Châu N4 lên phòng ngủ tại tầng 1 nói chuyện với H2. còn H, D, Á1, N5, N3 ở tầng trệt. Khoảng 15 phút sau, H rủ tất cả lên phòng ngủ của H ở phía ngoài tại tầng 2 để sử dụng ma túy, cả nhóm đồng ý, riêng N3 qua phòng kế bên ngủ. Tại đây, H lấy gói ma túy nước vui Mango Orange Flavor và 02 lon nước ngọt 7UP pha vào 02 chai nhựa (ký hiệu mẫu m2), rồi bỏ vào thùng đá ướp lạnh để mọi người sử dụng, tiếp đó H lấy gói ma túy đổ vào tờ tiền 2.000 đồng xào nấu, rồi đổ ra dĩa gỗ để dưới sàn nhà (ký hiệu mẫu m3) và lấy thẻ nhựa kẽ ma túy thành các đường, sau đó H lấy tờ tiền 20.000 đồng cuộn lại thành ống hút để sử dụng. Lúc này, D, Á1, N5 và H lần lượt uống nước vui đã được H pha sẵn rồi H, Á1, N5, D tiếp tục sử dụng ma túy, đến khoảng 03 giờ cùng ngày thì N3 qua phòng của H sử dụng 01 lượt ma túy khay rồi quay lại phòng kế bên ngủ tiếp.

Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Y, Châu N4 và H2 đi lên phòng của H. Tại đây, Châu N4 sử dụng ma túy khay còn Y lấy nước vui để uống, riêng H2 không sử dụng ma túy.

Quá trình sử dụng ma túy, khi thấy gần hết ma túy, H đã đặt mua ma túy khay cho cả nhóm sử dụng tiếp. Khoảng 08 giờ cùng ngày, H gọi điện thoại qua ứng dụng Facebook Messenger tên “Nhóc BT” (chưa rõ lai lịch) hỏi có biết ai bán ma túy không thì “Nhóc BT” nói “có” nên H nói muốn đặt mua hộp 10 ma túy nhưng sẽ trả tiền sau, “Nhóc BT” đồng ý và cho H số điện thoại 0869.346.xxx để liên hệ mua ma túy. Sau đó, H liên hệ số điện thoại trên đặt mua hộp 10 ma túy với giá 9.000.000 đồng và tiền vận chuyển 200.000 đồng và hẹn địa điểm bán ma túy tại số B L, phường P, quận T, đồng thời người bán ma túy cung cấp tài khoản số 19071759875015 mang tên Trần Thị Mộng N6 mở tại Ngân hàng T1 để H chuyển trả tiền. Khoảng 15 phút sau, có một đối tượng (chưa rõ lai lịch) sử dụng thuê bao số 0869346325 liên hệ giao hộp 10 ma túy khay cho H tại trước nhà số B L. Sau khi mua ma túy, H mang lên phòng đổ ra phân nửa ma túy khay vào tờ tiền 2.000 đồng xào nấu rồi đổ ra dĩa sứ (ký hiệu mẫu m4) để H, D, Á1, N5 tiếp tục sử dụng. Khoảng 8 giờ 40 phút cùng ngày, H đã chuyển tiền vào tài khoản số 19071759875015 mang tên Trần Thị Mộng N6 mở tại Ngân hàng T1 số tiền 9.200.000 đồng trả tiền mua ma túy.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, thấy gần hết nước vui nên H gọi điện thoại cho Y (do Y đã về nhà trước đó) hỏi có nước vui không thì Y trả lời có 01 gói ma túy nước vui Mango Orange F và nói H đến nhà Y tại số B Đ, phường P, quận T lấy và chở Y đến nhà D. Sau đó, Y đưa gói nylon có chữ Mango Orange Flavor chứa bột cho H cất giữ, khi đến nhà D thì H để gói nylon có chữ Mango Orange Flavor chứa bột lên bàn trang điểm, chưa sử dụng (ký hiệu mẫu m5).

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, Bùi Hữu R, Nguyễn Trí B, Võ Quốc T là bạn của D đến nhà chơi, sau đó cũng lên phòng của H sử dụng nước vui và ma túy của H cùng mọi người.

Sau khi mua hộp 10 ma túy khay, H đổ phân nửa ma túy để sử dụng cùng mọi người thì thấy ma túy này kém chất lượng nên H đã liên lạc với người bán ma túy trả lại số ma túy còn lại. Sau đó, H giấu gói ma túy còn dư vào hộp mực có chữ “Queen” và lấy vĩ thuốc bỏ vào túi nylon có in logo của nhà thuốc P rồi đặt ứng dụng “Ship Be” giao gói hàng trên trả lại cho người bán tại trước địa chỉ A L, phường P, quận T, lúc này nhân viên giao hàng “Ship Be” là anh Võ Quốc K nhận giao hàng trên ứng dụng. Khi nhận gói hàng, anh K không kiểm tra bên trong và không biết bên trong chứa ma túy đồng thời H đưa số điện thoại 0869.346.xxx cho anh K để liên lạc với người nhận gói hàng. Sau đó, anh K đến trước nhà số A L, phường P, quận T nhưng không liên lạc được với người nhận nên anh K đã gọi lại nhiều lần cho H để trả lại gói hàng nhưng do H ngủ nên không nghe máy. Lúc này, N3 thấy cuộc gọi đến liên tục nên đã gọi H dậy nghe máy nhưng H vẫn tiếp tục ngủ, khoảng 5 phút sau thấy H tiếp tục có cuộc gọi đến nên N3 cầm điện thoại của H nghe máy thì anh K nói đã giao hàng tới địa chỉ nhưng không liên lạc được với người nhận hàng thì N3 nói anh K gọi lại cho người nhận hàng, sau đó anh K gọi lại cho người nhận hàng vẫn không liên lạc được nên anh K tiếp tục gọi lại cho H thì N3 nghe điện thoại, lúc này anh K nói N3 nhận lại gói hàng rồi đưa thêm tiền vận chuyển cho anh K, N3 đồng ý. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi anh K vừa giao gói hàng (ký hiệu mẫu m) cho N3 thì bị Công an kiểm tra phát hiện thu giữ nên đưa N3 và K về trụ sở Công an làm việc. N3 không biết bên trong gói hàng anh K đưa chứa ma túy và cũng không biết việc H đặt S1 giao trả lại ma túy cho người bán.

Tiếp đó, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an quận T kết hợp Công an phường P, quận T kiểm tra hành chính nhà số B L, phường P, quận T, phát hiện Trịnh Hùng D, Nguyễn Thanh H2, Lê Minh N5, Võ Tá N3, Nguyễn Ngọc H, Bùi Hữu R, Võ Quốc T, Võ Văn Á1, Nguyễn Trí B, H Châu N4, Phạm Thị Ngọc Y có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đưa tất cả về trụ sở Công an phường P làm việc. Đồng thời, thu giữ tại phòng các đối tượng sử dụng ma túy gồm: 02 chai nhựa chứa ma túy nước vui Mango Orange F, 01 dĩa gỗ chứa ma túy để dưới sàn nhà, 01 dĩa sứ chứa ma túy, gói nylon có chữ Mango Orange Flavor chứa bột lên bàn trang điểm, chưa sử dụng, túi xách màu đen của H bên trong có 01 nylon có chữ Ferrari chứa bột, chưa sử dụng (ký hiệu mẫu m₁) và các dụng cụ sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy tại đây không ai phải hùn tiền mua ma túy với H.

Tại Cơ quan điều tra Công an quận T, Nguyễn Ngọc H, Trịnh Hùng D, Nguyễn Thanh H2 và Phạm Thị Ngọc Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Kết luận giám định số 12542/KL-KTHS, ngày 30/10/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,6206g, loại Ketamine (Bút lục 23).

Kết luận giám định số 12543/KL-KTHS, ngày 30/10/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:

  • Gói 1: Chất bột được ký hiệu mẫu m₁ cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,0728 gram, loại Methamphetamine, Ketamine;
  • Gói 2: Chất lỏng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có tổng thể tích 265 ml, đều tìm thấy Ketamine, N7;
  • Gói 3: Tinh thể được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3883 gram, loại Ketamine;
  • Gói 4: Tinh thể được ký hiệu mẫu m4 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3029 gram, loại Ketamine;
  • Gói 5: Chất bột được ký hiệu mẫu m5 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,6902 gram, loại Methamphetamine, Ketamine, N8 (Bút lục 25);

Kết luận giám định số 2415/KL-KTHS, ngày 21/03/2025 của V Bộ C1, kết luận:

  • G2: Nồng độ trung bình các chất ma túy Ketamine và N8 trong mẫu chất lỏng kí hiệu G2 gửi giám định lần lượt là 0,72 mg/mL và 0,08 mg/mL

Khối lượng các chất ma túy trong mẫu m2 gồm: 0,1908 gram loại Ketamine và 0,0212 gram loại Nimetazepam.

* Vật chứng thu giữ:

  • Một (01) gói niêm phong sau giám định số 3864/24, bên trong chứa tinh thể không màu còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,787 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Một (01) gói niêm phong sau giám định số 3865/24 (G3), bên trong chứa tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng 0,6979 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2, Bùi Hữu R, Trịnh Hùng D và hình dấu Công an phường P, quận T;
  • Một (01) gói niêm phong sau giám định số 3865/24 (G4), bên trong chứa tinh thể sau giám định có khối lượng 0,0640 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2, Bùi Hữu R, Trịnh Hùng D và hình dấu Công an phường P, quận T;
  • Một (01) gói niêm phong sau giám định số 2415/C09(TT2), bên trong chứa đối tượng sau giám định G1 1,5389 gram chất bột, G2 240,0 ml chất lỏng, G3 3,0081 gram chất bột; trên niêm phong có hình dấu của V và các chữ kí, họ tên: Trần Nam H5, Đoàn Thị Lệ H6;
  • Thu giữ của Nguyễn Thanh H2: Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số IMEI: 359473644971695, H2 sử dụng để liên lạc cá nhân. (Bút lục số 301, 304);
  • Thu giữ của Phạm Thị Ngọc Y:
    • + Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, số IMEI: 359330187090095, đã qua sử dụng (Bút lục 377, 379, 400, 401);
    • + Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 màu xanh, số IMEI: 353173589574860, đã qua sử dụng, Y sử dụng liên lạc với H mang ma túy đến nhà của D (Bút lục 377, 379, 400, 401);
  • Thu giữ của Nguyễn Ngọc H: một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Mini màu xanh dương, 128Gb, Seri số FD2DL2Y20GRN, số IMEI: 353005110348317, đã qua sử dụng, H sử dụng để liên lạc mua ma túy (Bút lục 175, 176, 184, 213, 214)
  • Thu giữ của Trịnh Hùng D
    • + Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro Max, số IMEI: 354900903005992 là điện thoại mà D sử dụng để liên lạc cá nhân;
    • + Một (01) ly thủy tinh (ly pha lê thường dùng để uống rượu), dùng để sử dụng ma túy nước vui (Bút lục 236, 237, 247, 248);
    • + Một (01) đĩa sứ; một (01) đĩa nhựa; một (01) bật lửa màu xanh; một (01) thẻ nhựa màu vàng; một (01) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, bên ngoài bọc 03 đoạn giấy, là dụng cụ để sử dụng ma túy (Bút lục 236, 237, 247, 248);
    • + Một (01) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, H sử dụng để nấu ma túy khay (Bút lục 236, 237, 247, 248);
    • + Một (01) túi xách màu đen, dùng chứa ma túy nước vui của Nguyễn Ngọc H (Bút lục 82, 83, 236, 237, 250, 251);
    • + Một (01) ly thủy tinh; một (01) muỗng kim loại; hai (02) vỏ lon 7UP, là dụng cụ H sử dụng để pha ma túy nước vui (Bút lục 236, 237, 247, 248)
    • + Một (01) loa nhạc; một (01) đèn chiếu, H dùng để mở nhạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. (Bút lục 236, 237, 247, 248)
    • + Một (01) túi nylon có chữ pharmacity; một (01) hộp giấy có chữ Queen;
  • Thu giữ của Võ Tá N3: một (01) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng hồng, số IMEI 1: 357300093806662, số IMEI 2: 35700094093245, đã qua sử dụng, N3 sử dụng để liên lạc cá nhân. (Bút lục 408, 413). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại cho Võ Tá N3 (Bút lục 409);
  • Thu giữ của Nguyễn Trí B: một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, 128Gb, số IMEI: 357170855068326, đã qua sử dụng, B sử dụng để liên lạc cá nhân (Bút lục 426). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại điện thoại trên cho Nguyễn Trí B (Bút lục 427);
  • Thu giữ của Lê Minh N5:
    • + Một (01) điện thoại di động hiệu Xiami 13 Ultra màu đen, số IMEI 1: 869335060204963, số IMEi 2: 869335060204971 và một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám, 256Gb, số IMEI: 350091873682517, B sử dụng để liên lạc cá nhân (Bút lục 439, 440, 441, 442, 448, 449). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại hai (02) điện thoại trên cho Lê Minh N5 (Bút lục 443)
  • Thu giữ của Vũ Văn Á:
    • + Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max màu bạc, số IMEI: 354650915661437 và một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu bạc, số IMEI: 356962060790632, Á sử dụng để liên lạc cá nhân (Bút lục 482, 483, 489). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại hai (02) điện thoại nêu trên cho Vũ Văn Á (Bút lục 484);
  • Thu giữ của Võ Quốc T: một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 (Bút lục 501, 507, 508).

Các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thànnh phố H đã nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 4254/PNK ngày 25/3/2025 (Bút lục 529, 530).

Tại bản cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 10 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Truy tố các bị cáo Trịnh Hùng D và Nguyễn Thanh H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Truy tố bị cáo Phạm Thị Ngọc Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H mức án từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
  • Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là từ 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng đến 13 (mười ba) năm 06 tháng tù;
  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trịnh Hùng D mức án từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H2 mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
  • Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc Y mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;

Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội theo như bản cáo trạng đã nêu và khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

  • Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H có vai trò là người rủ rê, đề xướng việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời là người đã có hành vi mua ma túy của đối tượng “Nhóc BT” và đối tượng (chưa rõ lai lịch), cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho Trịnh Hùng D, Lê Minh N5, Võ Tá N3, Bùi Hữu R, Võ Quốc T, Võ Văn Á1, Nguyễn Trí B, H Châu N4 và Phạm Thị Ngọc Y sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà số B L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Ngoài ra, quá trình điều tra xác định còn có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng các chất ma túy khác ở thể rắn là 9,6662 gram (trong đó gồm 3,0728 gram loại Methamphetamine, Ketamine; 1,882 gram loại Ketamine; 0,0212 gram loại Nimetazepam; 4,6902 gram loại Methamphetamine, Ketamine, N8). Do đó, hành vi của bị cáo H còn phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Do trong vụ án này, bị cáo H cùng lúc phạm 02 tội danh nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các tội;
  • Đối với các bị cáo Trịnh Hùng D, Nguyễn Thanh H2 là chủ sở hữu căn nhà số B L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi cung cấp địa điểm trên cho Nguyễn Ngọc H tổ chức cho các đối tượng Lê Minh N5, Võ Tá N3, Bùi Hữu R, Võ Quốc T, Võ Văn Á1, Nguyễn Trí B, H Châu N4 và Phạm Thị Ngọc Y sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Đồng thời bị cáo D cũng trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo H2 có vai trò hạn chế hơn nên hình phạt dành cho bị cáo D có phần nghiêm khắc hơn;
  • Đối với bị cáo Phạm Thị Ngọc Y có hành vi tàng trữ trái phép 4,6902 gram ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, Ketamine, Nimetazepam nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Bản thân các bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, các hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo do đó cần phải có mức án tương xứng, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Đây là vụ án có đồng phạm, tuy nhiên hành vi của các bị cáo là tự phát, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ rõ ràng nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

Đối với tài khoản Facebook tên “Nhóc BT” và đối tượng bán ma túy cho H, do không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với anh Võ Quốc K và Võ Tá N3, khi nhận gói hàng của H gửi không biết trong chứa ma túy nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với Lê Minh N5, Võ Tá N3, Bùi Hữu R, Võ Văn Á1, Nguyễn Trí B, H Châu N4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an phường P, quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Võ Quốc T, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 132/QĐ-TA ngày 17/01/2025.

Đối với số điện thoại thuê bao 0869.346.xxx, qua xác minh do ông Lê Thanh P2 thường trú thôn A, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định đứng tên chủ thuê bao. Ông P2 cho biết từ trước đến nay không đăng ký, sử dụng số điện thoại này và cũng không biết ai đang sử dụng số điện thoại này nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với tài khoản số 19071759875015 mang tên Trần Thị Mộng N6 mở tại Ngân hàng T1. Qua xác minh, Trần Thị Mộng N6 thường trú tại địa chỉ 16, tổ A, ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Hiện N6 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu nên chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tách hành vi Mua bán trái phép chất ma túy để tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo H là người đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo bản án số 04/2023/HS-ST ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này được xác định là “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo H2 hiện đang điều trị nhiều bệnh (thận, hạch nách, u nang buồng trứng ...), quá trình sinh sống bị cáo D và H2 có nhiều đóng góp trong công tác thiện nguyện, công tác xã hội, được nhiều địa phương ghi nhận, gia đình bị cáo Y có hoàn cảnh khó khăn nên các bị cáo D, H2 và Y còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với một (01) gói niêm phong sau giám định số 3864/24, bên trong chứa tinh thể không màu còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,787 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; một (01) gói niêm phong sau giám định số 3865/24 (G3), bên trong chứa tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng 0,6979 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2, Bùi Hữu R, Trịnh Hùng D và hình dấu Công an phường P, quận T; một (01) gói niêm phong sau giám định số 3865/24 (G4), bên trong chứa tinh thể sau giám định có khối lượng 0,0640 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2, Bùi Hữu R, Trịnh Hùng D và hình dấu Công an phường P, quận T; một (01) gói niêm phong sau giám định số 2415/C09(TT2), bên trong chứa đối tượng sau giám định G1 1,5389 gram chất bột, G2 240,0 ml chất lỏng, G3 3,0081 gram chất bột; trên niêm phong có hình dấu của V và các chữ kí, họ tên: Trần Nam H5, Đoàn Thị Lệ H6 là số ma túy còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số IMEI: 359473644971695 thu giữ của Nguyễn Thanh H2; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, số IMEI: 359330187090095, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Thị Ngọc Y; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro Max, số IMEI: 354900903005992 thu giữ của bị cáo Trịnh Hùng D, các bị cáo khai nhận sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho các bị cáo;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 màu xanh số IMEI: 353173589574860, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Thị Ngọc Y sử dụng liên lạc với bị cáo H để cung cấp ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Mini màu xanh dương, 128Gb, Seri số FD2DL2Y20GRN, số IMEI: 353005110348317 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Ngọc H, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với một (01) ly thủy tinh (ly pha lê thường dùng để uống rượu), dùng để sử dụng ma túy nước vui; một (01) đĩa sứ; một (01) đĩa nhựa; một (01) bật lửa màu xanh; một (01) thẻ nhựa màu vàng; một (01) túi xách màu đen, dùng chứa ma túy nước vui của Nguyễn Ngọc H; một (01) ly thủy tinh; một (01) muỗng kim loại; hai (02) vỏ lon 7UP, là dụng cụ H sử dụng để pha ma túy nước vui; một (01) loa nhạc; một (01) đèn chiếu, H dùng để mở nhạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; một (01) túi nylon có chữ pharmacity; một (01) hộp giấy có chữ Queen. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các công cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, hiện không còn giá trị sử dụng nên quyết định tịch thu tiêu hủy;

Đối với một (01) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, bên ngoài bọc 03 đoạn giấy, là dụng cụ để sử dụng ma túy; một (01) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, H sử dụng để nấu ma túy khay, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo sử dụng số tiền trên vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14 thu giữ của Võ Quốc T, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của anh T, không liên quan đến vụ án nên quyết định trả lại điện thoại trên cho anh T;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 4254/PNK ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H)

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 và Khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn cho các bị cáo;

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • * Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt:
  • Nguyễn Ngọc H 10 (mười) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2024;
  • - Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt:
  • Nguyễn Ngọc H 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2024;
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 13 (mười ba) năm tù;
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2024;
  • * Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt:
  • Trịnh Hùng D 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2024;
  • * Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt:
  • Nguyễn Thanh H2 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/6/2025 được cấn trừ thời gian tạm giam từ ngày 28/10/2024 đến ngày 23/01/2025;
  • * Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt:
  • Phạm Thị Ngọc Y 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2024;
  • * Áp dụng Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Tịch thu tiêu hủy: một (01) gói niêm phong sau giám định số 3864/24, bên trong chứa tinh thể không màu còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,787 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; một (01) gói niêm phong sau giám định số 3865/24 (G3), bên trong chứa tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng 0,6979 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2, Bùi Hữu R, Trịnh Hùng D và hình dấu Công an phường P, quận T; một (01) gói niêm phong sau giám định số 3865/24 (G4), bên trong chứa tinh thể sau giám định có khối lượng 0,0640 gram, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân S2 (giám định viên), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên), Nguyễn Hữu H4 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2, Bùi Hữu R, Trịnh Hùng D và hình dấu Công an phường P, quận T; một (01) gói niêm phong sau giám định số 2415/C09(TT2), bên trong chứa đối tượng sau giám định G1 1,5389 gram chất bột, G2 240,0 ml chất lỏng, G3 3,0081 gram chất bột, trên niêm phong có hình dấu của V và các chữ kí, họ tên: Trần Nam H5, Đoàn Thị Lệ H6; một (01) ly thủy tinh (ly pha lê thường dùng để uống rượu; một (01) đĩa sứ; một (01) đĩa nhựa; một (01) bật lửa màu xanh; một (01) thẻ nhựa màu vàng; một (01) túi xách màu đen; một (01) ly thủy tinh; một (01) muỗng kim loại; hai (02) vỏ lon 7UP; một (01) loa nhạc; một (01) đèn chiếu; một (01) túi nylon có chữ pharmacity; một (01) hộp giấy có chữ Queen;
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 màu xanh số IMEI: 353173589574860, đã qua sử dụng; một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Mini màu xanh dương, 128Gb, Seri số FD2DL2Y20GRN, số IMEI: 353005110348317 đã qua sử dụng;
  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước một (01) tờ tiền mệnh giá 20.000 (hai mươi ngàn) đồng và một (01) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng;
  • Trả cho bị cáo Nguyễn Thanh H2 một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số IMEI: 359473644971695;
  • Trả cho bị cáo Phạm Thị Ngọc Y một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, số IMEI: 359330187090095, đã qua sử dụng;
  • Trả cho bị cáo Trịnh Hùng D một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro Max, số IMEI: 354900903005992;
  • Trả cho anh Võ Quốc T một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 14;
  • (Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 4254/PNK ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H)
  • Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt/niêm yết theo quy định của pháp luật;

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Tp. Hồ Chí Minh – Phân trại khu vực Tân Phú;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2025/HSST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự

  • Số bản án: 165/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger