|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH Bản án số:165/2025/HSST Ngày: 11/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Tác
Ông Lê Thanh Miện
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
2 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 2 Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2025/QĐXXST-HS ngày 24/11/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý Văn L, sinh ngày 01/12/1990;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Nơi cư trú trú: thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Chức vụ: Không.
Đảng, đoàn thể, chính quyền: Không.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12.
Họ và tên cha: Lý Viết T (đã chết).
Họ và tên mẹ: Mai Thị P (đã chết).
Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 3.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 27/8/2024, Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Nhân thân:
- + Ngày 25/11/2021, Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- + Bản án số 47/2015/HSST ngày 17/9/2015, Toà án nhân dân huyện Văn lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 18/9/2016.
- + Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 26/7/2022, Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 26/01/2023.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: Hoàng Văn Đ, sinh ngày 02/8/1992;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Chức vụ: Không.
Đảng, đoàn thể, chính quyền: Không.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12
Họ và tên cha: Ngân Bá C (đã chết).
Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L1 (đã chết).
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2.
Vợ: Nông Thị D, sinh năm 1990 (đã ly hôn).
Con: Bị can có 01 con, sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Bản án số 09/2016/HSST ngày 05/12/2016, Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 15/7/2017.
- + Ngày 08/6/2021, Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa)
3. Họ và tên: Lý Văn T1, sinh ngày 20/5/1986.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;
Đảng, đoàn thể, chính quyền: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12.
Họ và tên cha: Lý Viết T (đã chết).
Họ và tên mẹ: Mai Thị P (đã chết).
Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ 2.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án:
- + Bản án số 03/2015/HSST ngày 12/02/2015, Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp trị giá 10.483.333 đồng), chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/8/2015. Đến nay, T1 chưa chấp hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bản án số 02/2017/HSST ngày 16/01/2017, Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp có giá trị là 343.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2017. Đến nay, T1 chưa chấp hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Tiền sự: Ngày 27/8/2024, Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Nhân thân:
- + Năm 2004, Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trẻ em” (năm 2005 được đặc xá).
- + Bản án số 133/2021/HSST ngày 09/9/2021, Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp có giá trị là 2.200.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt ngày 28/5/2022.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Công ty TNHH K (VIET NAM).
Đại diện theo pháp luật: Ông ZHANG YAN HUI – Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền của ông ZHANG YAN HUI: Bà Nguyễn Việt D1, sinh năm 1990. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4 năm 2024, Lý Văn L, sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn đến làm công nhân trong công trường thi công xây dựng của Công ty TNHH F (Công ty F1) thuộc Khu Công nghiệp Q, phường N, tỉnh Bắc Ninh đến tháng 01 năm 2025 thì nghỉ việc. L thuê trọ tại phòng trọ số A, tầng 3 nhà trọ của gia đình anh Thân Văn H1, sinh năm 1985 ở Tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh để ở cùng Hoàng Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng; Lý Văn T1, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn (anh trai của L) và cùng làm công nhân thời vụ tại Khu công nghiệp V, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình làm công nhân tại công trường thi công của Công ty F1, L biết tại khu vực tầng 4 toà nhà J05 của công ty là nơi tập kết vật liệu thi công; trong đó có các cuộn dây cáp điện có lõi bằng đồng nhưng không có người trông coi quản lý nên L nảy sinh ý định đột nhập vào công trường thi công của Công ty F1 trộm cắp dây cáp điện mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và rủ Đ, T1 tham gia cùng được Đ và T1 đồng ý. Trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2025 đến ngày 10/7/2025, L cùng Đ đã 05 lần trộm cắp dây cáp điện loại CVX (WDZ) 5x10mm2, chất liệu CU/XLPE/PVC, đường kính 18mm, đồng 05 lõi do Công ty TNHH một thành viên Z - Bộ Q sản xuất năm 2025, là tài sản của Công ty TNHH K để tại công trường xây dựng của Công ty F1, trong đó T1 tham gia cùng 04 lần, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/6/2025, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh than, không gắn biển kiểm soát chở L đi từ phòng trọ đến khu vực tường rào của Công ty F1 để trộm cắp tài sản. Tại đây, L nói Đại ngồi ở xe chờ để L một mình cầm theo 01 chiếc kìm bằng kim loại màu đỏ đen chèo qua hàng rào, đi vào tòa nhà J đi cầu thang bộ lên tầng 5 toà nhà, đi qua cầu thang nối sang tòa J05 rồi đi xuống tầng 4 tìm tài sản để trộm cắp. Lực quan sát xung quanh không có người trông coi, tại khu vực mặt sàn tầng 4 toà nhà J05 có 01 cuộn dây cáp điện loại CVX (WDZ) 5x10mm2, chất liệu CU/XLPE/PVC, đường kính 18mm, đồng 05 lõi do Công ty TNHH một thành viên Z- Bộ Q sản xuất năm 2025 được cuốn trong khung gỗ tròn là tài sản của Công ty TNHH K tập kết tại khu vực tầng 4 để phục vụ thi công. Lúc này, L dùng kìm kim loại mang theo cắt 128m dây điện trên thành nhiều đoạn dài từ 03m đến 04m, sau đó cuộn tròn lại thành 06 cuộn rồi vận chuyển theo lối đã đi vào, mang ra khu vực tường rào và sử dụng điện thoại Oppo A31 màu đen lắp sim số 0388.225.384 gọi đến số 0329.583.881 gọi Đ ra đón. Khi L mang các cuộn dây điện trộm cắp được ra khu vực tường rào, L đưa các cuộn dây điện qua khe tường rào bằng kim loại, Đ ở ngoài đỡ rồi bê các cuộn dây điện trên lên xe. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở L cùng số dây điện trộm cắp được đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, tại Tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, L đặt vấn đề bán số dây cáp điện trên cho chị H, chị H kiểm tra thấy dây điện lõi đồng được cắt thành các đoạn ngắn, bám dính nhiều bụi đất nên yêu cầu L phải tách vỏ nhựa lấy lõi đồng bên trong và chị H mua với giá 210.000 đồng/01 kg đồng. Sau đó, L và Đ cùng nhau dùng dao dọc giấy tách hết số vỏ nhựa, sau đó L cân được 57kg đồng rồi bán cho chị H với giá 210.000 đồng/01 kg được 12.000.000 đồng, số tiền này L và Đ đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/6/2025, tại phòng trọ Lý Văn L nói với Lý Văn T1 đi trộm cắp dây cáp điện và bảo T1 sau khi trộm cắp được dây điện thì Thế ra cửa hàng sắt vụn của chị H để tách vỏ nhựa cùng L, T1 đồng ý. Khoảng 21 giờ ngày 01/7/2025, Hoàng Văn Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh than, không gắn biển kiểm soát chở L đến khu vực tường rào Công ty F1. Đ đỗ xe ngồi ngoài chờ, L một mình chèo qua hàng rào, đi vào tòa nhà J đi cầu thang bộ lên tầng 5 toà nhà, đi qua cầu thang nối sang tòa J05 rồi đi xuống tầng 4 đến khu vực để cuộn dây điện trên tiếp tục dùng kìm kim loại cắt 74m dây điện thành nhiều đoạn dài từ 03 đến 04 mét, sau đó cuộn tròn lại thành 04 cuộn mang ra khu vực tường rào (L mang 02 lần, mỗi lần 02 cuộn). Khi L mang các cuộn dây điện trộm cắp được ra khu vực tường rào, L đưa các cuộn dây điện qua khe tường rào bằng kim loại, Đ ở ngoài lấy và để các cuộn dây điện trên lên xe. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở L cùng số dây điện trộm cắp được đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H. Tại đây, L sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 màu đen lắp sim số 0388225384 gọi đến số 0325.293.749 bảo Thế ra tách lõi đồng cùng. Sau đó, L, Đ, T1 cùng nhau dùng dao tách số dây điện trộm cắp được 33kg đồng rồi bán cho chị H với giá 210.000 đồng/01kg được số tiền 7.000.000 đồng, số tiền này L, Đ, T1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ ngày 04/7/2025, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh than, không gắn biển kiểm soát chở L đến khu vực tường rào Công ty F1. Đ đỗ xe ngồi ngoài chờ, L một mình đi vào tầng 4 tòa J05 tiếp tục dùng kìm kim loại cắt 31m dây điện thành nhiều đoạn dài từ 03 đến 04 mét, sau đó cuộn tròn lại thành 03 cuộn mang ra khu vực tường rào; L đưa các cuộn dây điện qua khe tường rào bằng kim loại để Đ ở ngoài lấy và vác cuộn dây điện lên xe. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở L cùng số dây điện trộm cắp được đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H rồi L gọi điện cho Thế ra tách lõi đồng cùng. Sau đó, L, Đ, T1 cùng dùng dao tách số dây điện trộm cắp được 14kg đồng rồi bán cho chị H với giá 210.000 đồng/01kg được số tiền 3.000.000 đồng, số tiền này L, Đ, T1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ tư: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/7/2025, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh than, không gắn biển kiểm soát chở L đến khu vực tường rào Công ty F1. Đ đỗ xe ngồi ngoài chờ, L một mình đi vào tầng 4 tòa J05 đến khu vực để cuộn dây điện tiếp tục dùng kìm kim loại cắt 42,5m dây điện thành nhiều đoạn dài từ 03 đến 04 mét, sau đó cuộn tròn lại thành 03 cuộn mang ra khu vực tường rào, L đưa các cuộn dây điện qua khe tường rào bằng kim loại, Đ ở ngoài lấy và vác cuộn dây điện lên xe. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở L cùng số dây điện trộm cắp được đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H rồi L gọi cho Thế ra tách lõi đồng cùng. Sau đó, L, Đ, T1 cùng dùng dao tách số dây điện trộm cắp được 19kg đồng rồi bán cho chị H với giá 210.000 đồng/01kg được số tiền 4.000.000 đồng, số tiền này L, Đ, T1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ năm: Khoảng 21 giờ ngày 10/7/2025, Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh than, không gắn biển kiểm soát chở L đến khu vực tường rào Công ty F1. Đ đỗ xe ngồi ngoài chờ, L một mình đi vào tầng 4 tòa J05 đến khu vực để cuộn dây điện tiếp tục dùng kìm kim loại cắt 68m dây điện thành nhiều đoạn dài từ 03 đến 04 mét, sau đó cuộn tròn lại thành 04 cuộn mang ra khu vực tường rào, L đưa các cuộn dây điện qua khe tường rào bằng kim loại, Đ ở ngoài lấy và để các cuộn dây điện lên xe. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở L cùng số dây điện trộm cắp được đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H rồi L gọi cho Thế ra tách lõi đồng cùng. Sau đó, L, Đ, T1 cùng dùng dao tách số dây điện trộm cắp được 30,5kg đồng rồi bán cho chị H với giá 210.000 đồng/01kg được số tiền 6.400.000 đồng, số tiền này L, Đ, T1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 15/7/2025, Công ty TNHH K tiến hành kiểm kê, rà soát tài sản tại khu vực tập kết vật tư tại tầng 04 toà nhà J05 Công ty F1 phát hiện bị mất trộm số dây cáp điện trên nên đã làm đơn trình báo đến Đồn Công an Q1 và giao nộp hình ảnh dây cáp điện loại CVX (WDZ) 5x10mm2, chất liệu CU/XLPE/PVC, đường kính 18mm, đồng 05 lõi bị mất trộm phục vụ công tác điều tra.
Ngày 15/7/2025 Lý Văn L, Lý Văn T1, Hoàng Văn Đ đến Đồn Công an Q1 đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Khi đầu thú, L giao nộp 01 điện thoại Oppo A31 màu đen; Đại giao nộp 01 điện thoại Oppo A94 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh số khung RLHJA3930PY120148, số máy JA70E-0178010; Thế giao nộp 01 điện thoại Oppo A18 màu đen phục vụ công tác điều tra.
Đồn Công an Q1 kiểm tra việc sử dụng trái phép chất ma tuý, kết quả: Lực, T1, Đ đều dương tính với ma tuý MOP.
Ngày 15/7/2025, Đồn Công an Q1 tiến hành triệu tập, làm việc với Nguyễn Thị H. Tại Cơ quan điều tra, H giao nộp 01 điện thoại Iphone 15 promax lắp sim số 0392.612.418 phục vụ công tác điều tra.
Ngày 16/7/2025, Đồn Công an Q1 đã bàn giao đối tượng, vật chứng cùng tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày 16/7/2025 Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường cho L chỉ và xác định vị trí trộm cắp, kết quả: Lực chỉ và xác định vị trí trộm cắp dây cáp điện tại tầng 04 toà nhà J05 Công ty F1.
Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Công ty F1 thu giữ tại camera an ninh trong công ty hình ảnh video ghi lại việc bị can mang dây điện trộm cắp được ra khỏi công ty qua khu vực tường rào.
Ngày 16/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của L, T1, Đ tại tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh, kết quả: thu giữ tại vị trí dưới gầm giường ngủ 01 con dao loại dao dọc giấy màu xanh loại dao lưỡi nhọn có cán dài 23,5cm, lưỡi dao dài 11cm; 01 con dao loại dao dọc giấy bằng kim loại dài 22cm, chuôi dao bằng kim loại màu bạc, lưỡi dao dài 8,5cm; 01 kìm bằng kim loại màu đỏ đen dài 09cm. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị L2 tại tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 16/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành cho L, T1, Đ, H nhận dạng. Kết quả: L, T1, Đ, H đều nhận dạng được nhau, nhận ra và xác định mẫu dây điện loại CVX (WDZ) 5x10mm2, chất liệu CU/XLPE/PVC, đường kính 18mm, đồng 05 lõi do Công ty TNHH K cung cấp là dây điện Lực, T1, Đ trộm cắp rồi tách vỏ nhựa lấy đồng bán cho H.
Ngày 21/7/2025, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với công ty TNHH K, kiểm tra, bóc tách dây cáp điện, kiết quả kiểm tra xác định: 2,24m dây cáp điện loại CVX (WDZ) 5x10mm², chất liệu CU/XLPE/PVC, đường kính 18mm, đồng 05 lõi do Công ty TNHH một thành viên Z- Bộ Q sản xuất năm 2025 bóc tách được 1kg đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh định giá và kết luận: Dây cáp điện “Cáp CVX (WDZ) 5x10mm2"; nhãn hiệu Z34 (Công ty TNHH một thành viên Z- Bộ Q); xuất xứ: Việt Nam; năm sản xuất: 2025; chất liệu: CU/XLPE/PVC, đồng 5 lõi; đường kính 18mm; mức cách điện 0,6x1kv. Thời điểm định giá: tháng 6/2025 và tháng 7/2025 đều có đơn giá 155.651 đồng/01m, 128m trị giá 19.923.341 đồng, 215,5m trị giá 33.542.812 đồng. Đơn giá đã bao gồm thuế VAT 10%.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động thu giữ của L, Thế Đ1, H, kết quả: Trong điện thoại của L, T1 đều lưu số điện thoại của nhau và thông tin cuộc gọi cho nhau khi trộm cắp, không kiểm tra được điện thoại của Đại do không mở được khoá, kiểm tra điện thoại của H không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Về vật chứng của vụ án: Điện thoại Iphone 15 promax lắp sim số 0392.612.418, quá trình điều tra xác định là phương tiện liên lạc của chị H không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 12/10/2025, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu.
Xe mô tô nhãn Honda wave màu xanh, số khung RLHJA3930PY120148, số máy JA70E-0178010, Đại mua của một nam thanh niên không quen biết vào tháng 6/2025 tại Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Bắc Ninh với giá 2.000.000 đồng. Kết quả tra cứu xác định xe đăng ký mang tên anh Lường Văn T2, sinh năm 2003, trú tại bản Phiêng Pẻn, xã S, tỉnh Sơn La, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Kết quả điều tra, anh T2 trình bày ngày 27/5/2025, anh T2 bị mất chiếc xe mô tô khi để tại Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan điều tra đã tách hành vi, chuyển tài liệu liên quan và xe mô tô Honda wave màu xanh số khung RLHJA3930PY120148, số máy JA70E-0178010 đến Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH K yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 53.466.153 đồng giá trị số dây cáp điện bị trộm cắp. Đến nay, cả 3 bị cáo chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Bản Cáo trạng số 22 /CT-VKS ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- B đã truy tố các bị cáo Lý Văn L và Hoàng Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lý Văn T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị H vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị H trong hồ sơ vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại có ý kiến: Tại phiên tòa hôm nay phía Công ty yêu cầu các bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH K số tiền 53.466.000 đồng.
Các bị cáo đồng ý với yêu cầu bồi thường của phía bị hại. Bị cáo L đồng ý bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo Đ bồi thường 18.000.000 đồng, bị cáo T1 bồi thường 10.466.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thân của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn L từ 04 năm 02 tháng đến 04 năm 04 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 16/7/2025.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đại T3 03 năm 06 tháng đến 03 năm 08 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 16/7/2025.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn T1 từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 16/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại là Công ty TNHH K (VIET NAM) số tiền là 53.466.000 đồng, trong đó: Bị cáo L bồi thường số tiền 25.000.000đ, bị cáo Đ bồi thường 18.000.000 đồng, bị cáo T1 bồi thường 10.466.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao loại dao dọc giấy màu xanh loại dao lưỡi nhọn có cán dài 23,5cm, lưỡi dao dài 11cm; 01 con dao loại dao dọc giấy bằng kim loại dài 22cm, chuôi dao bằng kim loại màu bạc, lưỡi dao dài 8,5cm; 01 kìm bằng kim loại màu đỏ đen dài 09cm.
4. Về án phí:
- - Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa buộc bị cáo Lý Văn L và Lý Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
- - Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Đ.
Các bị cáo và người đại diện của bị hại không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Lý Văn L, bị cáo Hoàng Văn Đ và bị cáo Lý Văn T1 đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có lời khai trong hồ sơ vụ án; bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H.
[2]Về tội danh: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2025 đến ngày 10/7/2025, tại tầng 4 toà nhà J05 Công ty F1 thuộc Khu Công nghiệp Q, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Lý Văn L, Hoàng Văn Đ đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện loại CVX (WDZ) 5x10mm2, chất liệu CU/XLPE/PVC, đường kính 18mm, đồng 05 lõi của Công ty TNHH K. Lý Văn T1 giúp sức Lý Văn L, Hoàng Văn Đ 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/6/2025, L và Đ cùng nhau trộm cắp 128m dây cáp điện, trị giá 19.923.328 đồng, tách được 57kg đồng, bán cho Nguyễn Thị H được số tiền 12.000.000 đồng.
- Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 01/7/2025, L, Đ và T1 trộm cắp 74m dây cáp điện, trị giá 11.518.174 đồng, tách được 33kg đồng, bán cho Nguyễn Thị H được số tiền 7.000.000 đồng.
- Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ ngày 04/7/2025, L, Đ và Thế lấy trộm 31m dây cáp điện, trị giá 4.825.181 đồng, tách được 14kg đồng, bán cho Nguyễn Thị H được số tiền 3.000.000 đồng.
- Lần thứ tư: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/7/2025, L, Đ và T1 trộm cắp 42,5m dây cáp điện, trị giá 6.615.167 đồng, tách được 19kg đồng, bán cho Nguyễn Thị H được số tiền 4.000.000 đồng.
- Lần thứ năm: Khoảng 21 giờ ngày 10/7/2025, L, Đ và T1 trộm cắp 68m dây cáp điện, trị giá 10.584.268 đồng, tách được 30,5kg đồng, bán cho Nguyễn Thị H được số tiền 6.400.000 đồng.
Tổng 05 lần L và Đ lấy được 343,5m dây cáp điện có tổng trị giá 53.466.118 đồng, trong đó T1 tham gia 04 lần có tổng trị giá 33.542.790 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Lý Văn L và Hoàng Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lý Văn T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó thể hiện các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo đã lén lút, lợi dụng sơ hở, lợi dụng hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản và quyền được pháp luật bảo vệ về tài sản. Mục đích trộm cắp là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi này không chỉ gây ảnh hưởng đến một cá nhân mà còn tác động đến cộng đồng, làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng để đảm bảo giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3. 1] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, không phân công, phân nhiệm từng vị trí, vai trò cụ thể cho từng bị cáo giữa các bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo L là người giữ vai trò đầu, là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ, phương tiện và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Đ là người canh gác, cảnh giới và vận chuyển tài sản trộm cắp đến nơi tiêu thụ. Bị cáo T1 có vai trò thứ yếu, thực hiện hành vi phạm tội 04 lần. Bị cáo T1 tuy không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp nhưng khi được L nhờ tách vỏ dây điện mà L và Đ đã trộm cắp được thì T1 đồng ý, vì vậy T1 đồng phạm với L và Đ với vai trò giúp sức trong vụ án.
[4] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án đã từng bị Toà án xử phạt tù, bị cáo T1 chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội.
[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo đầu thú. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lý Văn L, Hoàng Văn Đ và Lý Văn T1 phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lý Văn T1 phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử nhận định như sau: Các bị cáo Lý Văn L, Hoàng Văn Đ và Lý Văn T1 lén lút lợi dụng sở hở để trộm cắp tài sản của Công ty TNHH K (VIET NAM). Tổng 05 lần L và Đ lấy được 343,5m dây cáp điện có tổng trị giá 53.466.118 đồng, trong đó T1 tham gia 04 lần có tổng trị giá 33.542.790 đồng. Cả ba bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã bị Tòa án kết án nhưng các bị cáo không lấy đó là bài học mà tiếp tục phạm tội chứng tỏ các bị cáo là người khó giáo dục, nên cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật và có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo nhất trí liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 53.466.000 đồng, trong đó: Bị cáo L bồi thường số tiền 25.000.000đ, bị cáo Đ bồi thường 18.000.000 đồng, bị cáo T1 bồi thường 10.466.000 đồng. Do vậy căn cứ Điều 584; Điều 589 Bộ Luật Dân sự cần buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền nói trên.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 con dao loại dao dọc giấy màu xanh loại dao lưỡi nhọn có cán dài 23,5cm, lưỡi dao dài 11cm; 01 con dao loại dao dọc giấy bằng kim loại dài 22cm, chuôi dao bằng kim loại màu bạc, lưỡi dao dài 8,5cm; 01 kìm bằng kim loại màu đỏ đen dài 09cm là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 điện thoại Oppo A31 màu đen; 01 điện thoại Oppo A94;01 điện thoại Oppo A18 màu đen đây là tài sản bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Các vấn đề khác:
- - Đối với người bán ma túy cho L, T1, Đ, các bị cáo không biết họ tên, địa chỉ. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh, xử lý người đã bán ma túy cho các bị cáo.
- - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo L, Đ và Thế ngày 14/7/2025, các bị cáo là người nghiện ma túy không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, các bị cáo mua ma tuý riêng, mua vào thời gian khác nhau và một mình tự sử dụng nên không có dấu hiệu tội phạm Sử dụng trái phép chất ma túy, tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/10/2025, Công an tỉnh B Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với L, T1, Đ là có căn cứ.
- - Đối với Nguyễn Thị H là chủ cửa hàng thu mua phế liệu đã thu mua toàn bộ số dây cáp điện Lực, T1, Đ trộm cắp theo giá thị trường, quá trình mua bán L, T1, Đ không nói cho H biết nguồn gốc dây cáp điện do trộm cắp mà có. Sau khi mua được số đồng được tách ra từ dây cáp điện, chị H đã bán cho một người phụ nữ không quen biết đi thu mua sắt vụn nên Cơ quan điều tra không thu hồi được vật chứng nên Cơ quan điều tra nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
- - Đối với xe mô tô nhãn Honda wave màu xanh, số khung RLHJA3930PY120148, số máy JA70E-0178010, Đại mua của một nam thanh niên không quen biết vào tháng 6/2025 tại Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Bắc Ninh với giá 2.000.000 đồng. Kết quả tra cứu xác định xe đăng ký mang tên anh Lường Văn T2, sinh năm 2003, trú tại bản Phiêng Pẻn, xã S, tỉnh Sơn La, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Kết quả điều tra, anh T2 trình bày ngày 27/5/2025, anh T2 bị mất chiếc xe mô tô khi để tại Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan điều tra đã tách hành vi, chuyển tài liệu liên quan và xe mô tô Honda wave màu xanh số khung RLHJA3930PY120148, số máy JA70E-0178010 đến Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo quy định là có căn cứ.
- - Đối với chiếc điện thoại Iphone 15 promax lắp sim số 0392.612.418, quá trình điều tra xác định là phương tiện liên lạc của chị H không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 12/10/2025, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị H là đúng quy định.
[10] Về án phí:
- - Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa buộc bị cáo Lý Văn L và Lý Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
- - Bị cáo Hoàng Văn Đ là người dân tộc thiểu số sinh sống tại nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Đ.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
[12] Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo Lý Văn L, Hoàng Văn Đ và Lý Văn T1 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn L 04 (Bốn) năm 04 (B) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 16/7/2025.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đại T3 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 16/7/2025.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn T1 từ 2 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 16/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc:
- 2.1. Bị cáo bị cáo Lý Văn L phải bồi thường cho Công ty TNHH K số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- 2.2. Bị cáo Hoàng Văn Đ phải bồi thường cho Công ty TNHH K số tiền 18.000.000 đồng (Mười trám triệu đồng).
- 2.3. Bị cáo Lý Văn T1 phải bồi thường cho Công ty TNHH K số tiền 10.466.000 đồng (Mười triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao loại dao dọc giấy màu xanh loại dao lưỡi nhọn có cán dài 23,5cm, lưỡi dao dài 11cm; 01 con dao loại dao dọc giấy bằng kim loại dài 22cm, chuôi dao bằng kim loại màu bạc, lưỡi dao dài 8,5cm; 01 kìm bằng kim loại màu đỏ đen dài 09cm.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Oppo A31 màu đen; 01 điện thoại Oppo A94;01 điện thoại Oppo A18 màu đen;
4. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa buộc:
Bị cáo Lý Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Lý Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 523.3000 đồng (Năm trăm hai mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
5. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo Lý Văn L, Hoàng Văn Đ và Lý Văn T1 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Hoa |
Bản án số 165/2025/HSST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 165/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn Lực
