TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2025/HS-ST Ngày: 23/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thoa |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Tiến |
| Bà Lê Thị Huyền |
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường -Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại - Kiểm sát viên
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2025/HSST ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2025/QĐXXST-HS ngày 09/6/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày 04/5/1997; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; HKTT: khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn P – Sinh năm 1977 và bà: Lê Thị H – Sinh năm 1977; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Danh, chỉ bản số 737 lập ngày 06/01/2025 tại Công an quận H, Hà Nội.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 -Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Bùi Duy B, sinh ngày 03/11/2002; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn B, xã V, huyện P, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phải: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn M, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị các là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Danh, chỉ bản số 735 lập ngày 06/01/2025 tại Công an quận H, Hà Nội.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Chị Phạm Phương L, sinh năm: 2006, HKTT: số B Khu G, phường V, quận H, TP Hà Nội; Chỗ ở: L2.08 dự án TTTM nhà ở H số D Cầu A, phường V, quận H, TP Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm: 2002, HKTT: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Trần Kế T, sinh năm: 2000, HKTT: số D ngách A ngõ B Phố V, phường V, quận H, TP Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Đỗ Tiến H2, sinh năm: 2005; HKTT: thôn V, xã C, huyện Ứ, TP Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm: 1990, HKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 04/11/2024, Nguyễn Văn N đi bộ một mình đến khu vực phường V, quận H, TP Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đến trước cửa căn hộ L, dự án TTTM nhà ở H, số D Cầu A, phường V, quận H, TP Hà Nội, thì N phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đen-Bạc, BKS: 29BE-083.79, số máy JK19E2098664, số khung: RLHJK1919RZ037332 của chị Phạm Phương L (Sinh năm: 2006, HKTT: số B Khu G, phường V, quận H, TP Hà Nội; Chỗ ở: L2.08 dự án TTTM nhà ở H số D Cầu A, phường V, quận H, TP Hà Nội) đang để trên vỉa hè, không khóa cổ và khóa càng, không có người trông giữ. N tiến lại gần, lén lút dắt chiếc xe máy BKS: 29BE-083.79 trên đến 01 cửa hàng sửa chữa xe máy (không xác định được địa điểm) để thay khóa điện của chiếc xe này, rồi tháo bỏ chiếc biển kiểm soát 29BE-083.79 (không xác định được vị trí vứt bỏ) và sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.
Ngày 28/12/2024, chị Phạm Phương L đã có đơn gửi Công an phường T, quận H, TP Hà Nội trình báo sự việc mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đen-Bạc, BKS: 29BE-083.79 nêu trên. Sau đó, Công an phường T đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, có số khung: RLHJK1919RZ03332; số máy: JK19E2098664, đăng kí lần đầu ngày 23/09/2024. Xe đã qua sử dụng, có giá trị: 60.000.000 đồng”.
Sau khi trộm cắp được chiếc xe Honda SH Mode trên, trong khoảng thời gian từ ngày 24/12/2024 đến ngày 27/12/2024, Nguyễn Văn N còn rủ Bùi Duy B, là bạn quen qua mạng xã hội cùng nhau thực hiện 04 vụ Trộm cắp tài sản khác, xảy ra trên địa bàn các quận H, quận C và huyện T, TP Hà Nội. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ sáng ngày 24/12/2024, Nguyễn Văn N điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, không đeo BKS chở Bùi Duy B từ khu vực N, quận Đ, TP Hà Nội đến khu vực phường T, quận C, Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực trước số A đường T, phường T, quận C, TP Hà Nội thì N và B phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Xanh, BKS: 73F1–612.67, số máy: JK01E0366949, số khung: RLHJK0107NZ122032 của chị Nguyễn Thị Ngọc A (Sinh năm: 2002, HKTT: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình) đang để ngoài đường, không có người trông giữ, có khóa cổ, không khóa càng xe. Thấy vậy, N dừng xe bảo B đứng ngoài cảnh giới; còn N tiến lại gần, dùng chân đạp vào phần tay lái của chiếc xe máy BKS: 73F1-612.67 làm lỏng khóa cổ. Sau đó, B điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, không đeo BKS, rồi dùng chân đẩy N đang ngồi trên chiếc xe máy BKS: 73F1-612.67 để tẩu thoát. Sau đó, N và B mang gửi chiếc xe máy BKS: 73F1-612.67 tại khu vực bãi gửi xe chung cư R, phường T, quận T, TP Hà Nội để chờ tiêu thụ.
Ngày 05/01/2025, chị Nguyễn Thị Ngọc A đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) về việc mất trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Xanh, BKS: 73F1–612.67 nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode mang BKS: 73F1-61267, có số khung: RLHJK0107NZ122032; số máy: JK01E0366949, đăng kí lần đầu ngày 04/10/2022. Xe đã qua sử dụng, có giá trị: 55.000.000 đồng”.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 27/12/2024, Nguyễn Văn N điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, không đeo BKS chở Bùi Duy B từ khu vực N, quận Đ, TP Hà Nội đến khu vực phường V, quận H, TP Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực sân tập thể trước cửa nhà số D ngách A ngõ B phố V, phường V, quận H, TP Hà Nội thì N và B phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Đen, BKS: 18C1-402.21 của anh Trần Kế T (Sinh năm: 2000, HKTT: số D ngách A ngõ B Phố V, phường V, quận H, TP Hà Nội) không có người trông giữ, có khóa cổ nhưng không khóa càng xe. Thấy vậy, N dừng xe bảo B đứng ngoài cảnh giới; còn N tiến lại gần, dùng chân đạp vào phần tay lái của chiếc xe máy BKS: 18C1-402.21 làm lỏng khóa cổ. Sau đó, B điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode không đeo BKS, dùng chân đẩy N đang ngồi trên chiếc xe máy BKS: 18C1 – 402.21 để tẩu thoát. Sau đó, N và B đem gửi chiếc xe máy BKS: 18C1-402.21 tại khu vực hầm chung cư X, phường T, quận H, TP Hà Nội để chờ tiêu thụ.
Ngày 28/12/2024, anh Trần Kế T đã có đơn trình báo gửi Công an phường T, quận H, TP Hà Nội trình báo sự việc mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Đen, BKS: 18C1-402.21 nêu trên. Sau đó, Công an phường T đã chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an quận H (nay là Cơ quan CSĐT Công an T) để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: “01 chiếc xe máy Honda Wave màu đen mang BKS: 18C1 – 40221 có số khung: RLHJA3926NY702937; số máy: JA39E2826329, đăng kí lần đầu ngày 05/09/2022. Xe đã qua sử dụng, có giá trị: 15.000.000 đồng”.
Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ sáng ngày 27/12/2024, Nguyễn Văn N điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, không đeo BKS, chở Bùi Duy B từ khu vực chung cư X, phường T, quận H, TP Hà Nội đến khu vực phường L, quận H, TP Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực lòng đường trước số nhà C, ngõ H, phố L, phường L, quận H, TP Hà Nội thì N và B phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, màu sơn Nâu, BKS: 30K-1114, số máy: HA08E1133413, số khung: RLHHA08098Y112474 của anh Đỗ Tiến H2 (Sinh năm: 2005; HKTT: thôn V, xã C, huyện Ứ, TP Hà Nội) không có người trông giữ, có khóa cổ nhưng không khóa càng xe. Thấy vậy, N dừng xe bảo B đứng ngoài cảnh giới; còn N tiến lại gần, dùng chân đạp vào phần tay lái của chiếc xe máy BKS: 30K-1114 làm lỏng khóa cổ. Sau đó, B điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode không đeo BKS, dùng chân đẩy N đang ngồi trên chiếc xe máy BKS: 30K-1114 để tẩu thoát. Sau đó, N và B mang gửi chiếc xe máy BKS: 30K-1114 tại khu vực để xe của Bệnh viện Đ1, phường Q, quận H, TP Hà Nội để chờ tiêu thụ.
Ngày 14/01/2025, anh Đỗ Tiến H2 đã đến trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) về việc mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn Nâu, BKS: 30K-1114 nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream mang BKS: 30K-1114, có số khung: RLHHA08098Y112474; số máy: HA08E1133413, đăng kí lần đầu ngày 25/08/2009. Xe đã qua sử dụng, có giá trị: 12.000.000 đồng”.
Vụ thứ tư: Khoảng 04 giờ sáng ngày 27/12/2024, Nguyễn Văn N điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode không đeo BKS, chở Bùi Duy B đi từ khu vực Bệnh viện Đ1, phường Q, quận H, TP Hà Nội đến khu vực xã C, huyện T, TP Hà Nội để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực lòng đường trước sảnh Kiốt 20, HH01C, KĐT T, xã C, huyện T, TP Hà Nội thì N và B phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn Đỏ-Nâu, BKS: 17B6-511.87, số khung: 5835LZ439077, số máy: JF86E5149839 của chị Nguyễn Thị Thu H3 (Sinh năm: 1990, HKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình) không có người trông giữ, có khóa cổ nhưng không khóa càng xe. Thấy vậy, N dừng xe bảo B đứng ngoài cảnh giới; còn N tiến lại gần, dùng chân đạp vào phần tay lái của chiếc xe máy BKS: 17B6-511.87 làm lỏng khóa cổ. Sau đó, B điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode không đeo BKS, dùng chân đẩy N đang ngồi trên chiếc xe máy BKS: 17B6-511.87 để tẩu thoát. Sau đó, N và B mang gửi chiếc xe máy BKS: 17B6-511.87 tại khu vực để xe của Bệnh viện B1, phường P, quận H, TP Hà Nội để chờ tiêu thụ.
Ngày 06/01/2025, chị Nguyễn Thị Hoài T1 đã đến trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) về việc mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn Đỏ-Nâu, BKS: 17B6-511.87 nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision mang BKS: 17B6-511.87, có số khung: 5835LZ439077; số máy: JF86E5149839, đăng kí lần đầu ngày 16/06/2020. Xe đã qua sử dụng, có giá trị: 24.000.000 đồng”.
Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày 27/12/2024, Nguyễn Văn N điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, không biển kiểm soát chở Bùi Duy B đến bãi để xe của chung cư X, phường H, quận H, TP Hà Nội để lấy 01 chiếc xe máy BKS: 18C1-402.21, rồi cùng nhau đi tìm chỗ thay ổ khóa xe máy.
Khoảng 20 giờ cùng ngày 27/12/2024, Tổ công tác Công an phường T, quận H, TP Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đầu ngõ E M, phường T, quận H, TP Hà Nội thì phát hiện Nguyễn Văn N điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode không đeo BKS, đang đẩy Bùi Duy B ngồi trên chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 18C1-402.21 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Tại đây, N và B đã khai nhận 02 chiếc xe máy trên là tài sản do trộm cắp mà có nên Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường T để làm rõ.
Vật chứng của vụ án đã tạm giữ gồm:
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đen-Bạc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJK1919RZ03332, số máy: JK19E2098664, đã qua sử dụng, tạm giữ khi kiểm tra hành chính Nam và B.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Đen, BKS: 18C1-402.21, số khung: RLHJA3926NY702937, số máy: JA39E2826329, đã qua sử dụng, tạm giữ khi kiểm tra hành chính Nam và B.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Xanh, BKS: 73F1-612.67, số khung: RLHJK0107NZ122032, số máy: JK01E0366949, đã qua sử dụng, tạm giữ do Nguyễn Văn N giao nộp.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn Đỏ-Nâu, BKS: 17B6-511.87, số khung: 5835LZ439077, số máy: JF86E5149839, đã qua sử dụng, tạm giữ do Nguyễn Văn N giao nộp.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, màu sơn Nâu, BKS: 30K-1114, số khung: RLHHA08098Y112474; số máy: HA08E1133413, đã qua sử dụng, tạm giữ do Nguyễn Văn N giao nộp.
- 01 (một) thẻ gửi xe máy Zone R của khu đô thị R N, T, Hà Nội; 01 (một) thẻ gửi xe máy của Công ty TNHH Đ2 khu nhà ở CBNV Viện bỏng Lê Hữu T2; 01 (một) thẻ gửi xe máy của Bệnh viện Đ1, thu giữ do Nguyễn Văn N giao nộp (được đựng trong 01 phong bì, lưu trong hồ sơ vụ án).
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đ-Bạc, không đeo BKS, số khung: RLHJK1919RZ03332, số máy: JK19E2098664 đăng ký chủ sở hữu là chị Phạm Phương L. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Đen, BKS: 18C1-402.21, số khung: RLHJA3926NY702937, số máy: JA39E2826329 đăng ký chủ sở hữu là anh Trần Kế T. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Xanh, BKS: 73F1-612.67, số khung: RLHJK0107NZ122032, số máy: JK01E0366949 đăng ký chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Ngọc A. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn Đỏ-Nâu, BKS: 17B6-511.87, số khung: 5835LZ439077, số máy: JF86E5149839 đăng ký chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu H3. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, màu sơn Nâu, BKS: 30K-1114, số khung: RLHHA08098Y112474; số máy: HA08E1133413 đăng ký chủ sở hữu Vũ Xuân N1 (Sinh năm: 1969, HKTT: tổ A, phường Y, quận H, TP Hà Nội) sau bán lại cho anh Đỗ Tiến H2. Những chiếc xe máy trên đều có số khung, số máy nguyên thủy. Do đó, ngày 24/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 105 bằng hình thức trả lại 05 chiếc xe máy nêu trên cho Chị Phạm Phương L, Nguyễn Thị Ngọc A, Nguyễn Thị Hoài T1, anh Trần Kế T, Đỗ Tiến H2 chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Phương L, Nguyễn Thị Ngọc A, Nguyễn Thị Hoài T1, anh Trần Kế T, Đỗ Tiến H2 sau khi nhận lại tài sản và đều không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số 130/CT-VKS-HĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Văn Nam và Bùi Duy Bình tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị hại vắng mặt tại phiên tòa;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông duy trì quyền công tố: Sau
khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt Nguyễn Văn N từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 28/12/2024.
- Xử phạt Bùi Duy B từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 28/12/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Lưu 03 thẻ gửi xe máy thu giữ của bị cáo N, đưa vào hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không ai có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị HĐXX xem xét giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận H và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng và Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ sáng ngày 04/11/2024, tại trước cửa số D Cầu A, phường V, quận H, TP Hà Nội, Nguyễn Văn N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đen-Bạc, BKS: 29BE-083.79 của chị Phạm Phương L trị giá 60.000.000 đồng.
Tiếp theo, trong các ngày 24/12/2024 và 27/12/2024, trên địa bàn các quận H, Cầu G và huyện T, TP Hà Nội, Nguyễn Văn N và Bùi Duy B đã cùng nhau 04 lần lén lút chiếm đoạt tài sản gồm: ngày 24/12/2024 chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu sơn Xanh, BKS: 73F1-612.67 của chị Nguyễn Thị Ngọc A, trị giá 55.000.000 đồng; ngày 27/12/2024 chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Đen, BKS: 18C1-402.21 của anh Trần Kế T, trị giá 15.000.000 đồng; ngày 27/12/2024 chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn Đỏ-Nâu, BKS: 17B6-511.87 của chị Nguyễn Thị Thu H3, trị giá 24.000.000 đồng; ngày 27/12/2024 chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Super Dream, màu sơn Nâu, BKS: 30K-1114 của anh Đỗ Tiến H2, trị giá 12.000.000 đồng, đều chưa kịp tiêu thụ thì bị Công an phường T phát hiện bắt giữ.
Tổng giá trị tài sản 05 lần Nguyễn Văn N trộm cắp chiếm đoạt là 166.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 04 lần Bùi Duy B trộm cắp chiếm đoạt là 106.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn N và Bùi Duy B đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án, hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Giá trị tài sản trộm cắp lớn do đó cần áp dụng hình phạt tù nghiêm đối với các bị cáo.
Vụ án có tích chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo N và B cùng bàn bạc, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện phạm tội và cùng thực hiện tội phạm.
Xét vai trò của các bị cáo: N là người khởi xướng, có số lần trộm cắp nhiều hơn, giá trị tài sản trộm cắp lớn hơn nêu phải chịu hình phạt cao hơn so với B.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng: Xét, bị cáo N và B đã cố ý phạm tội trộm cắp tài sản của người khác, N trộm 05 lần và B trộm 04 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên”.
Đối với bị cáo N mặc dù 5 lần cố ý trộm cắp tài sản của người khác, tuy nhiên, bị cáo chưa tiêu thụ tài sản trộm cắp, nên không có căn cứ cho rằng bị cáo lấy tài sản trộm cắp làm nguồn thu nhập hay nguồn sống chính, do đó không bị áp dụng tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; tài sản bị trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho các bị hại, các bị cáo chưa được hưởng lợi gì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo yên tâm cải tạo.
Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Chị Phạm Phương L, Nguyễn Thị Ngọc A, Nguyễn Thị Hoài T1, anh Trần Kế T, Đỗ Tiến H2 sau khi nhận lại tài sản và đều không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do đó HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 03 thẻ trông giữ xe máy thu giữ của bị cáo N giao nộp.
[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 45; 46; 106; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;
1- Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N và Bùi Duy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2- Điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn N 37 (ba mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.
Xử phạt: Bùi Duy B 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.
3 - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, tịch thu lưu hồ sơ vụ án 03 thẻ trông giữ xe máy thu giữ của bị cáo N đã giao nộp.
4- Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt/niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thoa |
Bản án số 165/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 165/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
