TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 165/2025/HS-PT Ngày: 18/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân
Các Thẩm phán: Ông Trần Thế Cẩm
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị ThuThanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh M - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H cùng đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Bị cáo có kháng cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Văn H; giới tính: nam; tên gọi khác: H Cò L, H Cả L1; sinh ngày 20/5/1992, tại: P, Quảng Nam; Nơi ĐK thường trú và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: buôn bán; con ông Nguyễn L2 (sinh năm 1961) và bà Bùi Thị S (sinh năm 1961); vợ: Lê Thị Bích T (đã ly hôn); có 02 người con: con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016;
Tiền án: ngày 29/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phạt tù ngày 29/01/2022;
Nhân thân: ngày 18/02/2019, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/12/2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 04/01/2024, đến ngày 26/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt.
2/ Họ và tên: Bùi Minh Q; giới tính: nam; sinh ngày 22/10/2002, tại: N, Quảng Nam; Nơi ĐK thường trú và chỗ ở: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; con ông Bùi Minh V (sinh năm 1978) và bà Võ Thị Diễm H1 (sinh năm 1981); bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/12/2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 04/01/2024, đến ngày 09/4/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt.
3/ Họ và tên: Trần Trọng N; giới tính: nam; sinh ngày 03/4/2001, tại: T, Quảng Nam; Nơi ĐK thường trú và chỗ ở: Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần T1 (sinh năm 1968) và bà Dương Thị Bích P (sinh năm 1975); bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: không;
Tiền sự: ngày 31/3/2023, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”, bằng hình thức phạt tiền (đã chấp hành nộp phạt);
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt.
4/ Họ và tên: Võ Ngọc T2; giới tính: nam; sinh ngày 05/4/1982, tại: Q, Quảng Nam; Nơi ĐK thường trú và chỗ ở: khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Võ B (sinh năm 1936) và bà Phạm Thị K (chết); vợ: Nguyễn Thị Ny L3 (sinh năm 1981); có 03 người con: con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án: ngày 29/9/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 10/01/2022.
Tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 08/4/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong ngày 23/9/2008;
- Ngày 12/02/2015, bị Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Khai thác đất trái phép”, bằng hình thức phạt tiền. Đã chấp hành xong;
- Ngày 11/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm” thời gian thử thách là 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 12/01/2018;
- Ngày 09/6/2016, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, bằng hình thức phạt tiền. Đã chấp hành xong;
- Ngày 12/6/2017, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”, bằng hình thức phạt tiền. Đã chấp hành xong;
- Ngày 09/6/2021, bị Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép và tàng trữ trái phép vũ khí thể thao”, bằng hình thức phạt tiền. Đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/12/2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 04/01/2024, đến ngày 14/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt.
5/ Họ và tên: Phạm Quốc C; giới tính: nam; tên gọi khác: Cậu Ú; sinh ngày 16/8/1990, tại: T, Quảng Nam; Nơi ĐK thường trú và chỗ ở: khối phố P, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không; con ông Phạm Quốc L4 (sinh năm 1953) và bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1954); vợ: Huỳnh Ngọc D (sinh năm 1992); có 02 người con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 28/9/2023, bị Công an phường A, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Đã chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/12/2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 04/01/2024, đến ngày 23/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh.
Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Ngọc T2: Luật sư Nguyễn Thành Q1 của Văn phòng L7 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; Địa chỉ: H T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Quốc C và bị cáo Võ Ngọc T2: Luật sư Nguyễn Văn Đ của Văn phòng L7 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; Địa chỉ: H T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
Ngoài ra còn có 02 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Ngọc T2 và Bùi Văn H2 cùng chung vốn mở quán N5 tại đường N, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Bùi Văn H2 là người trực tiếp quản lý và kinh doanh hoạt động của quán N5.
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, do Nguyễn Thành D1 có mâu thuẫn với Bùi Văn N1 (là anh ruột của Bùi Văn H2) nên Nguyễn Thành D1, Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, Bùi Quốc N2 và Trần Trọng N đến quán N5 tìm N1 vì nghĩ N1 là chủ quán N5, nhưng không gặp N1 nên nhóm D1, H đi về. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Minh Q tiếp tục đến quán N5 để xem quán có bán không. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Minh Q, Bùi Quốc N2, Trần Trọng N đến quán N5 nhậu, cùng thời điểm này có nhiều thanh niên không rõ lai lịch cũng đến quán N5 để nhậu, Bùi Minh Q, Bùi Quốc N2, Trần Trọng N và một số thanh niên khác (không rõ lai lịch) vào quán nhậu chỉ gọi mỗi người một chai bia và ngồi đến 21 giờ 30 phút mới về. Bùi Văn H2 thấy việc buôn bán kinh doanh của quán mình bị ảnh hưởng nên có nói lại với Võ Ngọc T2 có nhóm thanh niên đến quán Q3 đến việc làm ăn của quán. Nghe vậy, vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, Võ Ngọc T2 muốn biết ai đến quậy quán mình nên rủ vợ là Nguyễn Thị Ny L3 đến quán N5 ăn tối. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, Phạm Quốc C đến quán N5 ăn tối cùng Võ Ngọc T2 và Nguyễn Thị Ny L3.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn H ngồi chơi cùng với Bùi Minh Q, Bùi Quốc N2, Trần Văn H3 ở quán N6 đường N, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, cách quán N5 khoảng 100 mét, thì bạn gái của H là Trần Thị Thủy T3 gọi điện rủ H đến quán N5 chơi. Nguyễn Văn H đi một mình đến quán N5. Khi đến quán N5, H ngồi nhậu với chị T3 và bạn chị T3 được khoảng 05 phút thì H đi vệ sinh. Khi đi vệ sinh ra, H dùng tay kẹp cổ hai nhân viên quán là Phan Đình H4 và Huỳnh Văn T4 và hỏi hai nhân viên là “có ba N1 ở đây không” rồi quay lại bàn ngồi với T3 và bạn của T3. Võ Ngọc T2 thấy H kẹp cổ nhân viên của quán nên hỏi H2 thì H2 nói với T2 đó là H, người trong nhóm thanh niên nhiều lần đến quán gây cản trở việc kinh doanh của quán. Thạch nghe vậy đi lại gặp H để nói chuyện. T2 kéo ghế ngồi bên cạnh H hỏi chuyện thì xảy ra mâu thuẫn, H và T2 đứng dậy, H dùng tay đẩy T2, T2 dùng tay đánh H thì H bỏ chạy ra ngoài đường cách quán khoảng 02 đến 03 mét. Khi H chạy ra ngoài, T2 đi lại bàn của T2. Khi thấy T2 không đuổi theo nữa, H quay lại điện thoại rồi đi bộ vào quán đến vị trí T2 ngồi, H cầm lấy ghế dựa của quán (loại ghế khung sắt, mặt và lưng áp gỗ) xông lại đánh T2, Nguyễn Thị N3 Liên vào can ngăn H thì bị ghế va trúng tay, H ném ghế về phía T2, ghế đập xuống nền làm miếng gỗ áp trên khung sắt của ghế rơi ra, khung sắt của ghế bay về phía Thạch, T2 đưa tay đỡ nên ghế trúng vào cánh tay của T2 gây thương tích, Thạch chụp được khung sắt của ghế cầm trên tay thì H bỏ chạy ra đường. Cùng lúc này, Phạm Quốc C đi vệ sinh vào thấy H đánh T2 nên C cầm ghế cùng T2 đuổi theo H, khi chạy đuổi theo H ra trước quán thì T2 bỏ khung ghế xuống đất rồi cùng C chạy đuổi theo H ra đường N cách quán N5 khoảng 50 mét, C dùng ghế ném trúng chân làm H ngã xuống trên vỉa hè, C và T2 xông đến dùng tay, chân đánh đấm nhiều cái vào vùng đầu, mặt của H. Thấy H bị đánh, chị T3 chạy đến can ngăn T2 ra, còn C tiếp tục lao vào đánh H. Lúc này, Bùi Minh Q đang uống bia tại quán N6 nghe nói H bị đánh nên chạy xe mô tô đến. Khi đến vị trí H bị đánh, Q xuống xe và nói: “Mi làm chi đánh anh H tau”, C nói lại: “Tau mới đánh thằng ni”. Khi nghe vậy, Q dùng tay phải đấm vào mặt C thì T2, C lao vào Q để đánh trả, Q chạy về lại vị trí để xe mô tô thì Bùi Quốc N2 điều khiển xe mô tô chở Trần Văn H3 chạy đến. Lúc này, H đứng dậy cùng với Q, N2, H3 đuổi lại T2, C chạy về phía quán N5. Trên đường đuổi chạy nhóm của H la hét gây ồn ào, khi đuổi T2, C vào quán N5 làm khách tại quán nhiều người hoảng loạn bỏ chạy ra khỏi quán. Sự việc xảy ra nhiều người đi đường đứng xem và có quay lại cảnh C, T2 đánh H và Q, H, N2, H3 đuổi T2, C chạy lại vào quán N5. Khi vào quán N5, H, N2, H3 cầm ghế đuổi C và T2 vào khu vực bếp, Q đi sau cùng cầm ghế ném mạnh 04 lần vào 04 bàn nhậu phía trước làm vỡ nhiều ly, chén, chai trên bàn. Sau đó, Q nhặt thanh sắt của khung ghế dựa bị rơi ra tiếp tục đi vào đập phá 03 lần liên tiếp lên 03 bàn nhậu khác nhau, rồi cầm ghế đập 01 lần nữa lên một bàn khác làm vỡ thêm nhiều ly, chén khác trên bàn. Vừa đập phá Q vừa la lối lớn tiếng. Bên trong, C, T2 lấy dao, kéo cầm trên tay đứng ở trong khu vực bếp. Lần lượt H3, N2 ném ghế về phía khu vực bếp nơi C và T2 đang đứng, rồi H, N2, H3 dùng ly, chai thủy tinh của quán ném liên tiếp nhiều lần vào C, T2, vừa ném vừa la lối lớn tiếng, trong quá trình H, Q, N2, H3 ném ly, chai thủy tinh vào phía C, T2 thì trúng vào túi quần C làm vỡ điện thoại C để trong túi quần. N2 dùng ghế hất đổ ngã bàn ghế phía trước khu vực bếp. Vài phút sau, Võ Tấn C1 đến can ngăn gọi Phạm Quốc C và T2 ra nói chuyện. Trong lúc Võ Tấn C1 đang nói chuyện, Q cầm ly thuỷ tinh xông vào ném một cái về phía Phạm Quốc C và T2 rồi được Võ Tấn C1 can ngăn Q.
Khi H, N2, H3, Q ra khỏi quán, Phạm Quốc C cầm dao đi ra nói chuyện, chỉa dao về nhóm H thì bị H, N2, H3 rượt đuổi vào lại khu vực bếp. Lúc này, Trần Trọng N đi đến quán N5, nghe tin H bị đánh và thấy H, N2, H3 đang đuổi Phạm Quốc C và T2 vào khu vực bếp nên N xông vào la lớn, gọi Phạm Quốc C và T2: “tụi bây ngon ra đây”, rồi chạy vào cầm một cái ly thuỷ tinh trên bàn ném vào vị trí Phạm Quốc C và T2 đang đứng. Sau khi N ném, N2 cũng ném miếng gỗ (mặt dựa của ghế dựa bị rơi ra) về phía Phạm Quốc C và T2. Sau đó, được Võ Tấn C1 và mọi người can ngăn nên nhóm H đi ra đứng phía trước quán.
Lúc này, Bùi Quốc N2 lấy điện thoại gọi messenger cho Nguyễn Đường Q2 và nói “anh H bị đánh ở quán N5, bạn ở đâu đem đồ chạy xuống tui cái”. Nghe vậy, Q2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng BKS: 92L1 – 391.62 chở Dương Đình H5 cầm 02 cây dao tự chế và 01 cây dao phát bờ bỏ vào 01 túi đựng cần câu chạy xuống quán N5. Nguyễn Thành L5 nghe tin H bị đánh cũng mang theo 01 gậy 03 khúc bỏ vào túi áo khoác điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu trắng BKS: 92L1 – 353.26 chạy đến quán N5. Khi đến gần quán N5 thì nhìn thấy Công an thành phố T đang làm việc, Q2 gọi cho N2 thì N2 nói là “xong rồi, về đi”. Q2 chở H5 đi về quán cà phê P1 của H và T3 mở tại số nhà C T, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Còn L5 chở T3 đi về quán cà phê P1. Nguyễn Đường Q2 đem cất túi đựng dao tự chế và dao phát bờ vào bên trong phòng thứ hai của quán cà phê P1 rồi ra ngoài ngồi nói chuyện với L5. Sau đó, L5, Q2, H5 điều khiển xe đi tìm H và lấy xe của T3 còn để tại quán N5 nhưng không tìm thấy nên quay lại quán cà phê P1 của H và T3.
Vào tối ngày 25/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T phối hợp với Công an phường A tiến hành kiểm tra quán cà phê P1 tại số nhà C T, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan, gồm:
- Tạm giữ tại quán N5:
- 01 (một) đoạn thanh kim loại, dạng hình hộp vuông với mỗi cạnh là 2 cm, dài 1,36 m;
- 01 (một) đoạn thanh kim loại, dạng hình hộp vuông với mỗi cạnh là 2 cm, dài 1,22 m;
- 01 (một) đoạn thanh kim loại, dạng hình hộp vuông với mỗi cạnh là 2 cm, dài 1,67 m;
- 01 (một) con dao dài 28cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao dài 16 cm;
- 01 (một) con rựa dài 108 cm, cán gỗ dài 79 cm, lưỡi cong dài 29 cm.
- 01 (một) đĩa DVD lưu giữ nội dung vụ việc đánh nhau tại quán N5 vào đêm 25/12/2023 trích xuất từ camera của quán N5.
- Tạm giữ từ chị Đỗ Thị Thanh T5: 01 (một) đĩa DVD chứa video lưu giữ nội dung vụ việc Phạm Quốc C và Võ Ngọc T2 đánh Nguyễn Văn H tại vỉa hè đường N vào đêm 25/12/2023 do chị T5 giao nộp.
- Tạm giữ từ Phạm Quốc C:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu đen (bị hỏng màn hình cảm ứng và vỡ mặt sau);
- 01 (một) áo khoác màu đỏ.
- Tạm giữ từ Võ Ngọc T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen (bị vỡ mặt sau).
- Tạm giữ từ Nguyễn Văn H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu tím.
- Tạm giữ tại phòng ngủ số 2 của quán cà phê Phố S T:
- 01 (một) túi vải màu đen – đỏ dài 119 cm, xác định là của Nguyễn Đường Q2 mang từ nhà xuống cất tại đây, bên trong có chứa các hung khí gồm: 01 (một) dao tự chế bằng kim loại màu trắng sáng dài 101,5cm, phần lưỡi dài 49,9cm, bản lưỡi rộng nhất 5cm, mũi nhọn, phần cán hình trụ tròn dài 51,6cm; 01 (một) dao tự chế (loại dao phát bờ) dài 107cm, phần lưỡi bàng kim loại dài 39,8cm, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 67,2cm; 01 (một) dao tự chế (hình dạng cây kiếm) dài 71cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 47cm, có vỏ bọc bằng gỗ bên ngoài, cán dao dài 24cm được quấn vải đỏ đen xung quanh;
- 01 (một) túi xách vải màu đen hiệu ADIDAS xác định là của Nguyễn Văn H mua về cất giấu, bên trong có: 02 (hai) gậy ba khúc (ba trắc) bằng kim loại dài 65,5cm khi kéo ra và dài 24cm khi thu lại, vị trí tay cầm được bọc nhựa màu đen có chữ BATON 26; 02 (hai) gậy ba khúc (ba trắc) bằng kim loại dài 76,5cm khi kéo ra và dài 30cm khi thu lại, vị trí tay cầm được bọc nhựa màu đen.
- Tạm giữ từ Nguyễn Thành L5:
- 01 (một) gậy ba khúc (ba trắc) bằng kim loại dài 65,5cm khi kéo ra và dài 24cm khi thu lại, vị trí tay cầm được bọc nhựa màu đen có chữ BATON 26;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade biển kiểm soát 92L1-353.26;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro.
- Tạm giữ từ Nguyễn Đường Q2:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 92L1- 391.62;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max.
- Tạm giữ từ Dương Đình H5: 01 (một) điện thoại Samsung A23.
- Tạm giữ từ Trần Thị Thủy T3: 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax. (các bút lục: 155,156,160,236,238,307,317,330,355,366,438,470,483,521)
* Ngày 26/12/2023, Ủy ban nhân dân phường A có báo cáo số 167/UBND-CAP về việc các đối tượng đuổi đánh nhau tại quán N5 và đường N, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T vào tối ngày 25/12/2023 gây bức xúc và tâm lý hoang mang cho người dân và dư luận, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội nơi công cộng. Đề nghị Cơ quan điều tra xử lý hành vi các đối tượng theo đúng quy định pháp luật. (bút lục: 180)
Cơ quan CSĐT Công an thành phố T cũng tiếp nhận đơn báo cáo của ông Trần Xuân H6 (sinh năm 1955), bà Phạm Thị Hồng V1 (sinh năm 1950), ông Phan Thanh L6 (sinh năm 1991), bà Nguyễn Thị Diệu H7 (sinh năm 1984), (cùng trú khối phố M, phường A, thành phố T) phản ánh việc các đối tượng đuổi đánh nhau tại quán N5 và đường N, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T vào tối ngày 25/12/2023 gây bức xúc, lo sợ và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội nơi cư trú. Đề nghị cơ quan điều tra xử lý hành vi các đối tượng theo đúng quy định pháp luật. (bút lục: 181)
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn H, Bùi Quốc N2, Bùi Minh Q, Trần Văn H3, Trần Trọng N, Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Về hình phạt:
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến ngày 26/5/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Bùi Minh Q 02 (Hai) năm tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 09/4/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Trần Trọng N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Võ Ngọc T2 09 (Chín) tháng tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 14/5/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Phạm Quốc C 09 (Chín) tháng tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 23/02/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Vào ngày 04/01/2025 bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, ngày 09/01/2025 bị cáo Trần Trọng N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ngày 15/01/2025 bị cáo Võ Ngọc T2, bị cáo Phạm Quốc C kháng cáo cho rằng không có hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của các bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về tội danh của Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C thì thấy: khi Võ Ngọc T2 thấy H kẹp cổ nhân viên của quán nên hỏi H2 thì H2 nói với T2 đó là H, người trong nhóm thanh niên nhiều lần đến quán gây cản trở việc kinh doanh của quán. Thạch nghe vậy đi lại gặp H để nói chuyện. T2 kéo ghế ngồi bên cạnh H hỏi chuyện thì xảy ra mâu thuẫn, H và T2 đứng dậy, H dùng tay đẩy T2, T2 dùng tay đánh H thì H bỏ chạy ra ngoài đường cách quán khoảng 02 đến 03 mét. Khi H chạy ra ngoài, T2 đi lại bàn của T2. Khi thấy T2 không đuổi theo nữa, H quay lại điện thoại rồi đi bộ vào quán đến vị trí T2 ngồi, H cầm lấy ghế dựa của quán (loại ghế khung sắt, mặt và lưng áp gỗ) xông lại đánh T2, H ném ghế về phía T2, ghế đập xuống nền làm miếng gỗ áp trên khung sắt của ghế rơi ra, khung sắt của ghế bay về phía Thạch, T2 đưa tay đỡ nên ghế trúng vào cánh tay của T2 gây thương tích, Thạch chụp được khung sắt của ghế cầm trên tay thì H bỏ chạy ra đường. Cùng lúc này, Phạm Quốc C đi vệ sinh vào thấy H đánh T2 nên C cầm ghế cùng T2 đuổi theo H, khi chạy đuổi theo H ra trước quán thì T2 bỏ khung ghế xuống đất rồi cùng C chạy đuổi theo H ra đường N cách quán N5 khoảng 50 mét, C dùng ghế ném trúng chân làm H ngã xuống trên vỉa hè, C và T2 xông đến dùng tay, chân đánh đấm nhiều cái vào vùng đầu, mặt của H. Khi T2 đuổi H ra đường thì không cầm theo bất kỳ hung khí gì mà chỉ dùng tay, chân cùng C đánh H và không có bàn bạc gì với C. Do đó, hành vi của T2 chỉ phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 chứ không phạm tội theo khoản 2 Điều 318 như cấp sơ thẩm đã xét xử. Đối với hành vi khi bị các bị cáo khác đuổi vào quán, dùng ly, chén, bàn ghế ném nên các bị cáo T2, C chạy vào bếp lấy dao để tự vệ, chưa gây ra hậu quả gì nên hành vi này của T2 và C không cấu thành hành vi gây rối trật tự công cộng. Riêng hành vi của C dùng ghế đuổi, đánh vào chân H đã cấu thành hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân để xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H 30 tháng tù, Bùi Minh Q 02 năm tù, Trần Trọng N 12 tháng tù, Phạm Quốc C 09 tháng tù là có cơ sở, đúng pháp luật, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đối với bị cáo Võ Ngọc T2 có hành vi như đã phân tích trên nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự giảm cho bị cáo 3-4 tháng tù.
* Luật sư Nguyễn Văn Đ bào chữa cho bị cáo Võ Ngọc T2 và bị cáo Phạm Quốc C trình bày luận cứ bào chữa: Nguyên nhân phạm tội không phải do Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C gây ra mà do mâu thuẫn từ Nguyễn Văn H và nhóm của H đến quán N5 gây sự từ trước đêm ngày 25/12/2023 xảy ra sự việc, không cho quán mở bán. Đêm 25/12/2023, Nguyễn Văn H đến quán N5 hỏi N1 và không cho quán bán thì Võ Ngọc T2 đến nói chuyện nhưng H đã có hành vi xô đẩy T2, sau đó H dùng ghế đánh T2. Do bức xúc nên T2 và C đuổi đánh H ra khỏi quán. Nhóm của H đến đuổi đánh T2 và C chạy vào trong quán thì T2 và C dùng dao, kéo đứng trong khu vực bếp để tự vệ thì nhóm H ném ly, chén, dĩa ... về phía T2 và C. Khi Võ Tấn C1 đến can ngăn thì T2 và C1 đi ra khỏi khu bếp thì nhóm của H lại xông vào để đánh. Hành vi của T2, C1 đuổi đánh H ra khỏi quán chỉ là hành vi vi phạm hành chính. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
* Luật sư Nguyễn Thành Q1 bào chữa cho bị cáo Võ Ngọc T2 trình bày luận cứ bào chữa: Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C cầm dao, kéo chỉ là hành vi tự vệ, nếu không sẽ bị nhóm của Nguyễn Văn H tấn công. Khi T2 và H xô xát tại quán N5 thì khách của quán không ai chạy ra khỏi quán. Chỉ đến khi nhóm H đuổi đánh T2 và C vào lại quán N5 đập phá thì khách mới chạy ra khỏi quán. Do đó, hành vi của T2 không bảo đảm cấu thành cơ bản của tội gây rối trật tự công cộng do T2 không có hành vi cầm ghế khi đuổi đánh H.
Các bị cáo Võ Ngọc T2, Phạm Quốc C thống nhất với luận cứ bào chữa của luật sư, các bị cáo khác không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, Trần Trọng N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C có đơn kháng cáo cho rằng không có hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết, riêng bị cáo Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C cho rằng không có hành vi “ Gây rối trật tự công cộng”.
[3] Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại quán N5 và tại đoạn đường N trước quán N5 thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, nhóm Nguyễn Văn H, Bùi Quốc N2, Bùi Minh Q, Trần Văn H3 và Trần Trọng N xảy mâu thuẫn, xô sát với nhóm Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C, hai bên dùng hung khí nguy hiểm như: dao, ghế gỗ khung bằng sắt, thanh sắt, ly thủy tinh, chén, dĩa sứ ném, đuổi đánh nhau, la hét làm cho nhiều người dân tụ tập, đứng ở trục đường N trung tâm thành phố T theo dõi và làm nhiều khách trong quán N5 hoang mang, lo sợ bỏ chạy khỏi quán. Nhóm Nguyễn Văn H, Bùi Quốc N2, Bùi Minh Q, Trần Văn H3, Trần Trọng N còn có hành vi đập phá bàn, ghế, ly, chén ... của quán N5.
Đối với Võ Ngọc T2 khi thấy Nguyễn Văn H đến quán N5 có hành vi kẹp cổ 02 nhân viên của quán để hỏi thông tin về Bùi Văn N1 (là anh ruột của Bùi Văn H2- chủ quán) và khi T2 đến nói chuyện với H thì H có hành vi gây gổ, lẽ ra T2 phải báo cáo cơ quan Công an, chính quyền địa phương để có biện pháp xử lý theo quy định pháp luật, nhưng T2 đã không thực hiện mà cùng Phạm Quốc C cầm ghế rượt đuổi đánh H trên đường N. Đồng thời, trích xuất video từ camera của quán N5 ghi lại hình ảnh Võ Ngọc T2 lúc đầu có cầm khung ghế bằng sắt đuổi H ra đến vỉa hè đường N trước quán N5 thì T2 bỏ khung ghế bằng sắt xuống, nhưng sau đó T2 đã cùng C khi đó cầm ghế gỗ có khung bằng sắt là hung khí nguy hiểm rượt đuổi H trên đường N và khi C cầm ghế ném trúng chân H làm H bị ngã trên vỉa hè thì T2 đã cùng C xông đến đánh H. Hành vi này của T2 giúp sức cùng C đánh H gây mất an ninh, trật tự công cộng, thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã kết án các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, Trần Trọng N, Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C về tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm và có hành vi phá phách” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xem xét nhân thân của bị cáo để làm căn cứ xử phạt Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù, Bùi Minh Q 02 (hai) năm tù, Trần Trọng N 12 (Mười hai) tháng tù, Võ Ngọc T6 09 (chín) tháng tù và Phạm Quốc C 09 (chín) tháng tù là có cơ sở, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q cung cấp thêm tình tiết là đã tham gia quân đội, bị cáo H có ông, bà nội là người có công với N4, bị cáo Trần Trọng N cung cấp giấy xác nhận báo tin tội phạm cho Công an phường A, thành phố T để xem xét là tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và luận cứ của người bào chữa cho các bị cáo Võ Ngọc T2 và bị cáo Phạm Quốc C, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, Trần Trọng N, Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về hình phạt đối với các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, Trần Trọng N, Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Về hình phạt:
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến ngày 26/5/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Bùi Minh Q 02 (Hai) năm tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 09/4/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Trần Trọng N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Võ Ngọc T2 09 (Chín) tháng tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 14/5/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Phạm Quốc C 09 (Chín) tháng tù. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 23/02/2024. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Minh Q, Trần Trọng N, Võ Ngọc T2 và Phạm Quốc C mổi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Minh Tân |
Bản án số 165/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 165/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội gây rối trật tự công công
