Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 165/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-6-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương, Ông Nguyễn Đức Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2025/QĐ-ST ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị T, sinh ngày 09/3/1990 (vắng mặt)
  2. Số căn cước công dân [...].

    Nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Chị T hiện đang lao động ở Đài Loan).

    Chị T ủy quyền cho anh Hoàng Văn V, sinh năm 1999; Nơi thường trú: thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án (văn bản ủy quyền ngày 27/02/2025, không triệu tập).

  3. Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh ngày 01/01/1985 (vắng mặt)
  4. Số căn cước công dân: [...].

    Nơi thường trú: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 27/02/2025 (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn chị Nông Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp và đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống chị và anh D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thống nhất được quan điểm, cách sống, vợ chồng sống chung với nhau không có hạnh phúc. Do cuộc sống có nhiều khó khăn về kinh tế nên tháng 5/2016 chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, anh Trần Văn D ở nhà nuôi dậy con. Chị và anh D đã sống ly thân từ khi chị đi xuất khẩu lao động đến nay. Từ đó hai vợ chồng chị rất ít liên lạc với nhau, những lần liên lạc với nhau chỉ có sự cãi vã, mẫu thuẫn, bất đồng quan điểm nghiêm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn D.

Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/04/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/09/2012. Hiện nay, hai cháu Trần Thị Khánh N và Trần Ngọc V1 đang cùng sinh sống với anh Trần Văn D tại địa chỉ thôn Đ, xã T (nay là tổ dân phố Đ, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giao hai cháu Trần Thị Khánh N và Trần Ngọc V1 cho bố là anh Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu để ổn định việc sinh hoạt hàng ngày và học tập của hai cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thị Khánh N và cháu Trần Ngọc V1 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/01tháng/01 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị T trình bày: do hiện nay chị đang ở Đài Loan không thể đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị ủy quyền cho anh Hoàng Văn V, sinh năm 1999; Nơi thường trú: thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án.

Tại Biên bản làm việc ngày 20/5/2025, bị đơn anh Trần Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nông Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 30/7/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn thì chị T về nhà anh làm dâu ngay, vợ chồng chung sống hòa thuận. Để cải thiện kinh tế gia đình nên chị T đi lao động tại Đài Loan, đến nay đã được 09 năm. Từ khi chị T ra nước ngoài lao động, hai vợ chồng anh chị rất ít liên lạc với nhau vì anh ít dùng điện thoại, còn chị T vẫn hay gọi về để nói chuyện với các con. Vì ít nói chuyện và không tâm sự với nhau về các vấn đề trong cuộc sống nên anh chị cũng không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống của riêng người đó, tình cảm cũng vì thế mà phai nhạt dần. Nay chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh, anh đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/04/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/09/2012. Hiện nay, hai cháu Trần Thị Khánh N và Trần Ngọc V1 đang cùng sinh sống với anh tại địa chỉ thôn Đ, xã T (nay là tổ dân phố Đ, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Anh đồng ý là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, cháu V1 nếu vợ chồng ly hôn để ổn định cuộc sống cũng như việc học tập của hai cháu. Việc chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/01tháng/01 cháu, anh đồng ý với mức cấp dưỡng trên.

Về công nợ, tài sản chung: Anh Duy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 20/5/2025, cháu Trần Thị Khánh N, cháu Trần Ngọc V1 trình bày: Các cháu là con mẹ Nông Thị T và cháu Trần Văn D. Hiện nay các cháu đang là học sinh Trường trung học cơ sở T2, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Từ khi mẹ các cháu đi nước ngoài đến nay, các cháu vẫn sống cùng bố tại địa chỉ tổ dân phố Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Các cháu được bố chăm sóc chu đáo đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, được cho ăn uống, được học hành đầy đủ. Các cháu muốn được sống cùng cả bố và mẹ, tuy nhiên hiện nay do mẹ các cháu đi nước ngoài không có thời gian về chăm sóc các cháu nên nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn sống cùng bố để thuận tiện cho việc học hành.

Tại phiên tòa, chị Nông Thị T, anh Trần Văn D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nông Thị T; Biên bản làm việc với anh Trần Văn D, cháu Trần Thị Khánh N, cháu Trần Ngọc V1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị T, bị đơn anh D là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị T.

Xử cho chị Nông Thị T được ly hôn anh Trần Văn D.

Về con chung: Do chị T hiện nay đang ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/04/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/09/2012 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/01 tháng/01 cháu. Nên chấp nhận đề nghị của chị T.

Về tài sản, công nợ chung: chị T, anh D không yêu cầu nên không giải quyết

Chị Nông Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nông Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn D và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nông Thị T hiện nay đang lao động ở nước ngoài. Mặt khác, anh D là bị đơn hiện có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn là chị T ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nông Thị T, bị đơn anh Trần Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nông Thị T và anh Trần Văn D.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị T và anh Trần Văn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống chị T, anh D phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Trần Văn D.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nông Thị T với anh Trần Văn D. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh D chung sống với nhau hòa thuận. Tuy nhiên, sau khi chị T đi lao động ở nước ngoài một thời gian thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Kể từ năm 2016 đến nay chị T và anh D không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh D, anh D tại biên bản ghi lời khai trình bày anh đồng ý ly hôn chị T vì anh xác định không còn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh D, chị T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh D, xử cho chị T được ly hôn anh D là có căn cứ và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Chị T, anh D có 02 con chung là cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/4/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/9/2012. Sau khi ly hôn chị T đề nghị giao cháu N, cháu V1 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh D đồng ý, cháu N, cháu V1 có nguyện vọng được ở cùng bố.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị T đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị T đi lao động tại nước ngoài cho đến nay anh D vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung, con chung phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Tại biên bản ghi lời khai anh D đồng ý nuôi hai con chung theo đề nghị của chị T. Ngoài ra, cháu N, cháu V1 là con chung trên 07 tuổi trình bày nguyện vọng được ở cùng anh D nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghị của chị T. Giao con chung cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/4/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/9/2012 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn chị Nông Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trường hợp chị Nông Thị T về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/01 tháng/01 cháu cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, anh D đồng ý với mức cấp dưỡng chị T đề nghị.

Xét đề nghị của chị T Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định tại Điều 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định thì cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Do vậy, đề nghị của chị T cũng như ý kiến của anh D là có căn cứ.

[7]. Về mức cấp dưỡng theo quy định tại Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 2 Điều 7 nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định: “Các đương sự có quyền thỏa thuận về mức cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa quyết định nhưng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi con”. Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì thấy đề nghị của chị T là phù với quy định pháp luật và ý kiến của anh D. Do vậy, chị T tự nguyện cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng/01 cháu là phù hợp nên chấp nhận đề nghị của chị T và ý kiến của anh D. Buộc chị Nông Thị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/4/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/9/2012. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi cháu N và cháu V1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có căn cứ và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[8]. Về lãi suất chậm thi hành án: Do vắng mặt chị T1, anh D nên không thể thỏa thuận được. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định theo quy định pháp luật.

[9]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị T, anh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10]. Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Nông Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[11]. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung chị Nông Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[12]. Về quyền kháng cáo:

Chị Nông Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Trần Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Nông Thị T được ly hôn anh Trần Văn D.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Khánh N, sinh ngày 11/04/2011 và cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 12/09/2012 cho anh Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, chị Nông Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Nông Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thị Khánh N và cháu Trần Ngọc V1 cho anh Trần Văn D với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/01tháng/01 cháu. Phương thức cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu Trần Thị Khánh N và cháu Trần Ngọc V1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  5. Về án phí: Chị Nông Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005654 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nông Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

    Chị Nông Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

  6. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nông Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

    Anh Trần Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 165/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị T và anh D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger