Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09/6/2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tâm.
  2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hùng Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trần Huỳnh Đức Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 09tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025, về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngân T, sinh năm 1996 (Có mặt);

Địa chỉ: Số E ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1994 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Ngân T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tự tìm hiểu, chị và anh T1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào tháng 3 năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2020. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 06 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống trong thời gian chung sống, anh T1 đi làm xa không ở gần vợ con nên anh có trao đổi nói anh T1 về làm gần gia đình nhưng anh không đồng ý, anh T1 nợ nần nên có nhiều người đến nhà đòi nợ, anh T1 có người phụ nữ khác. Nay tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thành T1.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 28/11/2019 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 09/12/2023. Hiện nay, các con chung đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu A, cháu D và trước đây tại các buổi hòa giải chị yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi con mỗi cháu 5.000.000 đồng cho đến khi các đủ 18 tuổi, lao động được. Nay tại phiên tòa, chị thay đổi yêu cầu về mức cấp dưỡng chị yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi con mỗi cháu 3.000.000 đồng cho đến khi các đủ 18 tuổi, lao động được; thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.

- Về tài sản chung: Anh chị không có.

- Về nợ chung: Anh chị không có.

* Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Thành T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian kết hôn. Theo anh, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh là do mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc với gia đình nhà vợ, anh không có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác như chị T trình bày những người này chỉ là bạn làm ăn của anh. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm nên anh đồng ý ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 28/11/2019 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 09/12/2023. Hiện nay các cháu A và cháu D đang sống với chị T. Ly hôn, anh T1 đồng ý giao cháu A có chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng 3.000.000 đồng, nếu Tòa án giao cháu D cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng anh đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 3.000.000 đồng.

- Về tài sản chung: Anh chị không có.

- Về nợ chung: Anh chị không có.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 55, 81, 82, 83, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngân T, cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Thành T1.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 28/11/2019 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 09/12/2023 cho chị Nguyễn Ngân T được trực tiếp thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến thành niên (đủ 18 tuổi);

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Bảo A và Nguyễn Thành D, số tiền cấp dưỡng 3.000.000 đồng/01 tháng/01 con chung cho đến khi cháu Nguyễn Bảo A và Nguyễn Thành D đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn vào năm 2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 12/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14, nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị T, căn cứ vào lời khai của chị T và anh T1 trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ giữa năm 2023, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn về kinh tế gia đình (tiền bạc) và có mâu thuẫn về vấn đề tình cảm (theo chị T thì anh T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác). Từ tháng 6/2023 đến thời điểm xét xử vụ án, anh T1 thường xuyên đi làm xa nhà và hiện vợ chồng anh chị đã ly thân.

Từ những tình tiết nêu trên, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, anh T1 cũng đồng ý ly hôn với chị T nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh T1.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 28/11/2019 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 09/12/2023. Hiện nay các cháu A và cháu D đang sống với chị T. Tại phiên tòa, chị T có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và cháu D; anh T1 đồng ý giao cháu A cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay cháu A và cháu D đã sống ổn định với chị T, cháu Danh T2 đến thời điểm xét xử dưới 36 tháng tuổi. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu A và cháu D, cần giao cháu A và cháu D cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa chị T yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi cháu A và cháu D mỗi tháng mỗi cháu là 3.000.000 đồng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động được; Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa anh T1 đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng 3.000.000 đồng, nếu Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng anh đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng 3.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử nhận thấy, việc chị T yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi cháu cháu A và cháu D mỗi tháng mỗi cháu là 3.000.000 đồng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động được; Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định căn

cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83, Điều 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung: Chị T và ang T3 xác định tại phiên tòa không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: Chị T có yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0013994 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên xem như chị T đã nộp đủ án phí.

Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Ngân T, cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Thành T1.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 28/11/2019 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 09/12/2023 cho chị Nguyễn Ngân T được trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Bảo A, sinh ngày 28/11/2019 và Nguyễn Thành D, sinh ngày 09/12/2023 mỗi tháng mỗi con chung là 3.000.000 (Ba triệu) đồng cho đến khi cháu A, cháu D đủ 18 tuổi, có khả năng lao động được. Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Chị Nguyễn Ngân T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Thành T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí:

Chị Nguyễn Ngân T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0013994 ngày 06/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị T đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Thành T1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND H.GCĐ;
  • - CC.THADS H.GCĐ;
  • - UBND xã Tân Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Lê Ngọc Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 165/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger