|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2025/DS-PT
Ngày: 18/3/2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các thẩm phán: Bà Đặng Mai Hoa
Bà Trần Thị Liên Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Trần Thị Ngoan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 422/2024/TLPT-DS ngày 04/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 94/2025/QĐ-PT ngày 25/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2025/QĐ-PT ngày 11/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Xóm D, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội.
(Có mặt).
2. Bị đơn:
2.1 Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
2.2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1 Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).
3.2 Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)
3.3 Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Có mặt)
3.4 Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt)
3.5 Cháu Nguyễn Phương T1, sinh năm 2007
3.6 Cháu Nguyễn Phương D, sinh năm 2010
3.7 Cháu Nguyễn Văn T2, sinh năm 2014
Đại diện hợp pháp của cháu T1, D, T2: Anh Nguyễn Văn C (bố đẻ), sinh năm: 1984 và chị Nguyễn Thị N (mẹ đẻ), sinh năm 1987; đều cư trú tại: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội.
( Vắng mặt).
3.8 Ông Nguyễn Hữu T3 (tên gọi khác: C2), sinh năm: 1969
Nơi cư trú: đội D, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).
3.9 Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1969
Nơi cư trú: đội D, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Vắng Mặt)
3.15 Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thuận T4, chức vụ: Chủ tịch xã.
( Vắng mặt).
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Chí L2, sinh năm: 1973; HKTT: Nhà số A, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Nhà số B, lô C, dịch vụ P, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Chí V1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện, Đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai, biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ kèm theo, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị V và đại diện uỷ quyền của bà V trình bày: Bà V là chủ sử dụng thửa đất số 868, tờ bản đồ số 08, diện tích 78m², loại đất ở nông thôn, tại địa chỉ Đ, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội, bà được Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 706915, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS-HĐU 43029 ngày 06/7/2021.
Thửa đất này có nguồn gốc của bố mẹ bà V là ông Nguyễn Chí K (sinh năm 1932) và bà Trần Thị D1 (chết năm tháng 4/2022).
Vào khoảng năm 2020, bố mẹ bà V chia thửa đất cho hai con trai là Nguyễn Chí V1 (sinh năm 1970), Nguyễn Chí L2 (sinh năm 1973) và bà V.
Năm 2021, ông V1, ông L2, bà V làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và được Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào ngày 06/7/2021.
Bà V sử dụng diện tích 78m², thửa đất 868, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 706915, số vào sổ cấp GCN: CSHĐU/43029 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 06/7/2021. Ông Nguyễn Chí L2 sử dụng diện tích 73,1m², thửa đất số 867; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 706914, số vào sổ cấp GCN: CSH ĐU/43030 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 06/7/2021. Ông Nguyễn Chí V1 sử dụng diện tích 136,9m², thửa đất số 866, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 706913, số vào sổ cấp GCN: CSH ĐU/43028 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 06/7/2021.
Quy trình thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Chí K (bố bà V) và của bà được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Thửa đất của bà V có vị trí như sau: Phía Tây giáp đường đê, có chiều dài 4,19m; Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Chí L2, có chiều dài 17,34m; Phía Đông giáp nhà văn hóa thôn Đ1, có chiều dài 4,14m; Phía Nam giáp phần đất gia đình bà Nguyễn Thị H đang sử dụng, có chiều dài 9,04m; giáp ngõ đi 6,9m. Trước đó, trên thửa đất của bà V và ông L2 có 01 căn nhà cấp 4 lợp tôn, năm 2021 bà V và ông L2 dỡ bỏ căn nhà và bức tường rào để xây dựng lại, hiện nay là thửa đất trống, không có công trình gì, không ai sinh sống trên đất.
Từ khi nhận tặng cho thửa đất trên, bà V chưa xây dựng công trình gì. Khi ông L2 và bà V phá bỏ bức tường rào (do UBND xã A xây dựng trước đây) để xây dựng thì bà Nguyễn Thị H và con trai là Nguyễn Văn C đã xây 01 bức tường lấn qua phần móng của bức tường cũ, dài 9m, phía đông nam lấn 0,67m, phía tây nam lấn 0,25m, tổng diện tích bà H, anh C lấn chiếm của bà là 5,5m² (theo số liệu đo đạc của Công ty Cổ phần K3 thực hiện đo đạc ngày 27/12/2021).
Nay bà V đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C tự tháo dỡ bức tường và trả lại cho bà V phần diện tích đã lấn chiếm là 5,5m², trong đó, phía đông nam lấn 0,67m, phía tây nam lấn 0,25m.
*Tại Bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là bà Nguyễn Thị H và đại diện uỷ quyền của bà H trình bày: Bà hiện là chủ sử dụng thửa đất số 326, tờ bản đồ 08, địa chỉ: Đ, Thôn Đ, xã A, huyện H, Hà Nội. Thửa đất này có nguồn gốc của vợ chồng bà mua lại của ông Nguyễn Hữu Đ năm 1990 (ông Đ là chú ruột của bà).
Vợ chồng bà mua của ông Đ 05 thước đất ở (tương đương 24m x 5=120m²) và 01 góc ao (tương đương 24m x 5=120m²), một phần đất ao của nhà bà hiện nay do nhà bà V sử dụng, diện tích bao nhiêu bà không nắm được. Việc mua bán đất giữa vợ chồng bà và ông Đ có giấy nhượng đất.
Ao này có diện tích lớn, giao cho 05 hộ: hộ ông Đ, hộ ông N1, ông M, ông K, bà S, ông N2, các ông bà này nay đã chết, các phần ao được chia ra hiện nay bà đang quản lý phần của hộ ông Đ, những phần còn lại bà không biết ai đang tiếp tục quản lý. Thửa đất này là do bà Nguyễn Thị S để lại cho ông Đ. Lúc vợ chồng bà mua thửa đất này, các con bà còn nhỏ, không có đóng góp gì. Đến nay, nhà bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vợ chồng bà đắp đất đổ lên ao, tính từ vị trí bức tường do Ủy ban nhân dân xã X năm 2005 (hiện nay bức tường này không còn do bà V phá dỡ năm 2021), mở rộng diện tích sử dụng theo chiều ngang khoảng 4-5m.
Vào năm 2005, ông D2 (phó Thôn Đ) và ông S1 (Trưởng thôn) đã đến đề nghị gia đình bà đổi cho ông K lấy phần đất do gia đình bà đã đắp vào ao, gia đình bà lấy phần đất hiện nay là ngõ đi tính từ đường đê (đi qua hết nhà bà T5) đi vào nhà bà, gia đình ông K sau đó dỡ bỏ gian nhà trên lối đi hiện nay. Lúc này, giữa gia đình bà và gia đình ông K đã xảy ra tranh chấp về việc sử dụng đất nhưng chưa được giải quyết.
Sau khi gia đình bà nhất trí việc đổi đất (năm 2005), Ủy ban nhân dân xã A đã xây dựng 01 bức tường kéo dọc từ đường đê vào hết đất nhà bà đến tường nhà văn hóa thôn Đ để ngăn cách thửa đất nhà bà và nhà ông K. Sau khi Ủy ban nhân dân xây xong bức tường, cũng năm 2005, gia đình bà (bà và anh C) cũng đã xây dựng 01 bức tường hướng từ đê đi vào làm vật ngăn cách giữa thửa đất do gia đình bà sử dụng và gia đình ông K, có độ dài khoảng khoảng 4,7m; cao khoảng 2,15m; rộng 10cm. Quá trình đổi đất như bà trình bày ở trên bà không có giấy tờ gì.
Đến cuối năm 2021, bà V (con gái ông K) tự ý phá dỡ bức tường mà Ủy ban nhân dân xã đã xây dựng năm 2005.
Cũng vào năm 2021, gia đình bà xây dựng 01 bức tường nối từ bức tường do gia đình bà xây dựng năm 2005, có độ dài dài khoảng 8,9m; cao 2,15m; rộng 10cm (bức tường này có một đoạn gia đình bà sử dụng làm tường chuồng gà), khi gia đình bà xây dựng bức tường này thì bức tường do Ủy ban nhân dân xã X năm 2005 vẫn còn, nhà cấp 4 của bà V cũng vẫn còn.
Cuối năm 2021, bà V phá dỡ nhà cấp 4 và phá dỡ cả bức tường do Ủy ban nhân dân xã X năm 2005. Hiện nay, móng của bức tường do xã xây dựng cũng không còn.
Hiện tại, trong phần diện tích bà đang quản lý, sử dụng, bà đã chuyển nhượng 01 phần diện tích đất năm 2020 cho vợ chồng em trai bà là Nguyễn Hữu T3 (còn gọi là C2), sinh năm 1969; vợ là Nguyễn Thị L1, sinh năm 1969; cùng trú tại đội D, thôn Đ, xã A, huyện H, Hà Nội, diện tích cụ thể bà không rõ, tính từ căn nhà cấp 4, lợp tôn (lối đi ra phía nhà ông N3), căn nhà cấp 4 này nằm sát với ngôi nhà hai tầng hiện nay gia đình bà đang sử dụng.
Bà H khẳng định bức tường được bà và con trai là C xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bà, do đó, bà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V.
Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn K1 năm 1981 (ông K1 chết năm 1993), vợ chồng bà sinh được 04 người con, gồm: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; trú tại: Đ, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984, trú tại: Đ, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, trú tại: Đ, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn C1, sinh năm 1989, trú tại: Đ, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; trú tại: Thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Ngoài những người con trên, vợ chồng bà không có con riêng, không có con nuôi.
*Quá trình tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị L và anh C1 đồng ý toàn bộ quan điểm của bà H và người đại diện theo ủy quyền của bà H và không bổ sung thêm ý kiến gì.
* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã A có quan điểm: Hiện nay, Ủy ban nhân dân xã A sử dụng bản đồ đo đạc năm 1996 để lập hồ sơ đề nghị Uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ trên địa bàn.
Quá trình thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Chí K được UBND xã A thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hiện trạng sử dụng đất của bà Nguyễn Thị V vượt diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, hộ bà Nguyễn Thị H sử dụng vượt diện tích theo sổ mục kê và bản đồ đo đạc năm 1996, Ủy ban nhân dân xã A không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Ủy ban nhân dân xã A đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
* Quá trình tố tụng, người làm chứng là ông Nguyễn Chí L2 trình bày: Ông là em ruột của bà Nguyễn Thị V, là con của ông Nguyễn Chí K (sinh năm 1932) và bà Trần Thị D1 (mất tháng 4/2022) có thửa đất số 324, tờ bản đồ số 08, diện tích 288m², tại thôn Đ, xã A, huyện H, Hà Nội
Vào khoảng năm 2020, bố mẹ ông chia đất cho các con và ông, ông V1, bà V đã được Sở T – Chi nhánh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/7/2021, ông sử dụng thửa đất số 867, bà V sử dụng thửa đất số 868, ông V1 sử dụng thửa đất số 866.
Năm 2000, ông xây dựng căn nhà cấp bốn khép kín trên phần diện tích khoảng 75m² và cả phần diện tích đất do Ủy ban nhân dân xã Q (phần đất sát nhà bà T5), xây dọc theo bức tường nhà của nhà bà T5, phần còn lại ông để đất trống để trồng rau.
Đến năm 2007, Ủy ban nhân dân xã lấy đất mở lối đi vào nhà văn hóa thôn Đ (được xây dựng khoảng năm 2007), gia đình ông đã phá dỡ công trình được xây dựng trên phần đất công.
Khoảng tháng 1 năm 2008, ông xây dựng căn nhà cấp 4 khép kín trên phần diện tích đất trống còn lại, khi xây nhà, ông xây móng bè khoảng 1m đối với bức tường sát lối đi vào nhà văn hóa thôn Đ.
Năm 2021, ông phá dỡ toàn bộ công trình trên đất (trên phần diện tích bà V và trên phần đất của ông) để giải phóng mặt bằng cho ông và bà V xây dựng công trình mới.
Trên diện tích đất công, Ủy ban nhân dân xã A mở lối đi vào nhà văn hóa thôn Đ.
Sau khi ông phá dỡ phần công trình xây dựng trên đất công, năm 2008 gia đình bà H đã xây 01 bức tường dài khoảng 4,7m; cao khoảng 2,15m; rộng 10cm.
Khoảng ngày 17/10/2021, ông bắt đầu phá dỡ công trình trên hai thửa đất (thửa 868 của bà V bà thửa 867 của ông), khoảng ngày 18/10/2021 lợi dụng khoảng trống do việc phá dỡ công trình của ông, gia đình bà H đã xây dựng 01 bức tường nối từ bức tường bà H đã xây dựng năm 2008, bức tường mới xây này có chiều dài khoảng 8,9m; cao 2,15m; rộng 10cm.
Theo ông, bà H đã xây dựng bức tường ngày 18/10/2021 là xây dựng trên đất của bà V (vì ông và bà V có tự đo đạc lại).
Ông không liên quan đến tranh chấp giữa bà V và bà H nên ông không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp giữa bà V và bà H theo quy định của pháp luật. Ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các cấp.
*Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người làm chứng là ông Nguyễn Chí V1 có trình bày: Ông là con của ông Nguyễn Chí K và bà Trần Thị D1, là em trai của bà Nguyễn Thị V. Thửa đất đang tranh chấp giữa bà V và bà H có nguồn gốc là của bố mẹ ông. Ông là người sinh sống trên đất từ nhỏ.
Cuối năm 2019, đầu năm 2020, bố mẹ ông làm thủ tục tặng cho ông, ông L2 và bà V quyền sử dụng đất. Năm 2021, ba anh chị em của ông đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào ngày 06/7/2021.
Vào khoảng cuối năm 2021 đầu năm 2022, ông phá dỡ 01 căn nhà cấp 4 để xây dựng 01 căn nhà 3 tầng như hiện nay. Tại thời điểm bà V và gia đình bà H xảy ra tranh chấp năm 2021, Ủy ban nhân dân xã A thuê Công ty đo đạc để đo đạc hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông, ông L2, bà V, tại thời điểm này nhà cấp 4 vẫn còn, sau đó ông mới phá dỡ để làm nhà 3 tầng. Theo ông, nhà bà H đã xây dựng bức tường phía trong (phía giáp với nhà văn hóa thôn Đ1) vào năm 2021 là xây lên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà V và lấn chiếm phần diện tích đất theo như kết quả đo đạc của Công ty cổ phần K3 thực hiện ngày 27/12/2021 là đúng.
Ông không có quyền và lợi ích gì liên quan đến vụ án nên không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Hà nội đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị V.
Buộc gia đình bà H, anh C phải trả lại bà Nguyễn Thị V phần diện tích đất đã lấn chiếm 3,1m² (được giới hạn bởi các điểm 25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25) và phá dỡ bức tường có chiều dài 8,93m, cao 2,15m, rộng 10cm (được giới hạn bởi các điểm 25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25 có sơ đồ kèm theo).
2. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 12/8/2024 và ngày 19/8/2024 bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị V đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 96/2024/DSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Ngày 11/3/2025 bà Nguyễn Thị V có đơn rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin rút yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu nào khác và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi tóm tắt và phân tích nội dung vụ án, xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
[1]. Về tố tụng: bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị H kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tuy nhiên ngày 11/3/2025 bà Nguyễn Thị V có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét thấy việc rút đơn kháng cáo của bà V là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do vậy Tòa án đình chỉ giải quyết phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà V
Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn C và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị N; cháu Nguyễn Phương T1, cháu Nguyễn Phương D3, cháu Nguyễn Văn T2. Do anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị N đại diện theo pháp luật; ông Nguyễn Hữu T3; bà Nguyễn Thị L1,; Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:
- Thửa đất số 868, tờ bản đồ số 08, diện tích 78m2, loại đất ở nông thôn thuộc Đội 4, thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội có nguồn gốc trước đây là một phần thửa đất số 324 của cụ Nguyễn Chí K (Nguyễn Trí K2) và cụ Trần Thị D1 (bố mẹ đẻ của bà V), đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 217220 ngày 8/9/2020 mang tên ông Nguyễn Chí K, tờ bản đồ số 01, diện tích 288m².
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ K và cụ D1 phân chia thửa đất số 324 cho ba người con là: ông Nguyễn Chí V1, ông Nguyễn Chí L2, bà Nguyễn Thị V.
Ngày 6/7/2021, bà V, ông V1, ông L2 được Sở Tài nguyên và môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:
- + Ông Nguyễn Chí L2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 706914 đối với thửa đất số 867, tờ bản đồ số 08 diện tích 73,1m².
- + Ông Nguyễn Chí V1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 706913 đối với thửa đất số 866, tờ bản đồ số 08 diện tích 136,9m².
- + Bà Nguyễn Thị V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 706915 đối với thửa đất số 868, tờ bản đồ số 08 diện tích 78m²; có tứ cạnh như sau:
Phía tây: giáp đường đê, có chiều dài 4,44m;
Phía bắc: giáp đất ông L2, có chiều dài 17,49m;
Phía đông: giáp nhà văn hóa thông Đ1, có chiều dài: 4,14m
Phía nam: giáp nhà bà H, ngõ đi (phía nhà bà T5), có chiều dài 16.26m.
- Đối với quyền sử dụng đất số 326, tờ bản đồ số 08, theo bản đồ đo đạc năm 1996 của hộ bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C (là người đang trực tiếp quản lý sử dụng) thể hiện:
Theo bản đồ năm 1996 thì Thửa đất 326, tờ bản đồ số 01, diện tích 237m², mục đích: đất ở, người đăng ký kê khai: Bà Nguyễn Thị H và thửa 331 diện tích 112m². Thửa đất này có nguồn gốc là của vợ chồng bà H, ông K1. Hiện nay, thửa đất số 326 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Về nguồn gốc bức tường cao 2,15m; dài 8,93m, rộng 10cm mà bà Nguyễn Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn C phải tự phá dỡ, xét thấy quá trình giải quyết các bên đương sự đều thừa nhận bức tường này là do bà H, ông C xây dựng. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xét thấy, sau khi ông K, ông V1, ông L2, bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các bên đã sử dụng ổn định, không tách thửa, không có tranh chấp, không có khiếu nại hay phản đối gì về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như sơ đồ thửa đất thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện H1 cấp cho ông Nguyễn Chí K, Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H đã cấp cho bà V, ông L2, ông V1.
Quá trình thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K đối với thửa đất 324 đã được UBND xã A đã tiến hành lập hồ sơ thủ tục đề nghị cấp giấy theo đúng trình tự, thủ tục, tiến hành niêm yết, các hộ giáp ranh xác nhận không có tranh chấp, không có khiếu nại gì. Thửa đất của bà V được đăng ký biến động từ thửa đất số 324, diện tích 288m² tờ bản số 01 do UBND huyện H1 cấp ngày 08/9/2020 cho ông Nguyễn Chí K, thửa đất số 868 của bà V được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H xác định và cập nhật theo quy định của pháp luật.
Hiện tại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K, bà V vẫn có giá trị pháp lý; không có cá nhân, tổ chức nào yêu cầu hủy hoặc chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Tại phiên toà ngày 25/6/2024, bà Nguyễn Thị V không nhất trí với kết quả đo đạc ngày 24/2/2023 của Công ty TNHH Đ2 mà cho rằng kết quả đo đạc của Công ty Cổ phần K3 ngày 27/12/2021 mới là chính xác, phần diện tích được sử dụng của bà còn thiếu 5,5m². Xét thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã yêu cầu Công ty Cổ phần K3 và Công ty TNHH Đ2 giải thích về quá trình và kết quả đo đạc đối với các thửa đất liên quan và ngày 19/7/2024 đã cho tiến hành xem xét, thẩm định, đo đạc lại các thửa đất có liên quan.
Ngày 03 và 04 tháng 7năm 2024 Công ty Cổ phần K3 và Công ty TNHH Đ2 tại Công văn số 15/2024/CV và Công văn số 20/2024/CV, đã làm rõ và xác định tại thời điểm đo đạc khác nhau, mốc giới đo đạc khác nhau dẫn đến kết quả đo đạc của hai Công ty khác nhau.
Tại thời điểm Công ty Cổ phần K3 tiến hành đo đạc hiện trạng, trên thửa đất 866 (chủ sử dụng là ông Nguyễn Chí V1) là 01 căn nhà cấp 4 lợp tôn, mốc giới đo đạc là căn nhà cấp 4 lợp tôn.
Tại thời điểm Công ty TNHH Đ2 tiến hành đo đạc hiện trạng, căn nhà cấp 4 lợp tôn trên thửa đất 866 đã được ông Văn P dỡ để xây dựng nhà 3 tầng, khởi công ngày 10/4/2022, khi đo đạc hiện trạng, mốc giới là căn nhà 3 tầng.
Kết quả đo đạc của Công ty TNHH K3 ngày 19/7/2024 trùng với kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ2 trước đó và xác định thửa đất số 868 của bà V hiện trạng sử dụng thiếu 3,1m² về phía có bức tường tranh chấp trên đó, bức tường dài 8,93m, cao 2,15m; rộng 10cm.
So với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp và sổ mục kê năm 1996, bản đồ đo đạc năm 1996, diện tích bà V và hộ bà H đang sử dụng đều có sự thay đổi, tăng về diện tích, tuy nhiên, về hình thể là không có sự thay đổi.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã sử dụng phương pháp dùng máy để đo đạc, điểm đặt chân máy là bức tường nhà ba tầng của gia đình ông V1, hiện trạng sử dụng đất của bà V, gia đình bà H, thấy rằng:
Việc sử dụng đất của bà V có nhiều biến động, tuy nhiên, dựa trên cơ sở sổ mục kê, bản đồ địa chính năm 1996, hệ thống bản đồ dự án tổng thể và hồ sơ kĩ thuật thửa đất số 868, sơ đồ hình thể trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 706915, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐU 43029, thửa đất số 868, tờ bản đồ số 08, diện tích 78m², địa chỉ Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Theo Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24/02/2023; Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất, sơ đồ hiện trạng bổ sung; kết quả xem xét, thẩm định lại ngày 19/7/2024, phần đất tranh chấp thực đo theo sự hướng dẫn chỉ mốc giới của các bên đương sự, thể hiện như sau:
Hiện trạng đất nhà bà V đang sử dụng là 85,3m² (thừa 7,3m²) so với diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hiện trạng đất nhà bà H đang sử dụng là 294,6m² (thừa 57,6m²) so với bản sổ mục kê năm 1996, đồ địa chính năm 1996 (đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt).
Giữa thửa đất nhà bà V và thửa đất nhà bà H là thửa đất 325 có diện tích 29,5m², hiện tại gia đình H đang sử dụng, quản lý. Theo xác minh tại UBND xã A, đây là phần đất công do UBND xã A quản lý.
Như vậy, bà V và gia đình bà H đang sử dụng đất thừa so với giấy chứng nhận được cấp và theo Bản đồ địa chính, sổ mục kê năm 1996.
Tuy nhiên, giữa bà V và gia đình bà H, anh C chỉ tranh chấp phần diện tích đất giáp ranh với nhau (có bức tường), không có tranh chấp với các hộ liền kề cũng như không có tranh chấp với bất kỳ ai khác.
Nay, bà V yêu cầu bà H, anh C trả lại phần diện tích 5,5m² và phá dỡ công trình trên đất. Tuy nhiên, theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đối chiếu với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sơ đồ thửa đất theo bản đồ đo đạc năm 1996 thì hiện trạng sử dụng đất của nhà bà H, anh C đang quản lý, sử dụng sang thửa đất của nhà V là 3,1m² được giới hạn bởi các điểm (25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25), trên phần diện tích lấn chiếm này thì có bức tường dài 8,93m, cao 2,15m; rộng 10cm (được giới hạn bởi các điểm 25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25).
Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà V. Buộc gia đình bà H, anh C phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm 3,1m² (được giới hạn bởi các điểm 25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25) là có căn cứ. Tuy nhiên để đảm bảo tính ổn định sử dụng các công trình trên đất của các bên nên buộc gia đình bà H, anh C thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho bà V là: 3,1m2 x 50.000.000 đồng/m2 = 155.000.000 đồng. Gia đình bà H, anh C được tiếp tục quản lý sử dụng diện tích 3,1m2 đất này trên có bức tường ( do gia đình bà H, anh C xây) có chiều dài 8,93m, cao 2,15m, rộng 10cm (được giới hạn bởi các điểm 25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25).
* Đối với phần hiện trạng diện tích sử dụng vượt quá Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp của bà V và hộ bà H (theo bản đồ đo đạc năm 1996, sổ mục kê năm 1996), Xét thấy quá trình giải quyết các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà H, nên sửa án sơ thẩm như phân tích ở trên.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên Toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên được chấp nhận.
Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 26; Điều 220, Điều 296; khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 160, 161, 163, 164, 166, 169, Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ các điều: 12, 166, 170 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Đình chỉ giải quyết phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị V.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Hà Nội.
- Buộc gia đình bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị V 155.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng 3,1 m2 đất mà gia đình bà H, anh C đã lấn của gia đình bà H. Gia đình bà H, anh C được quyền sử dụng 3,1m2 đất được giới hạn bởi các điểm (25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25) và được sở hữu tài sản gắn liền là bức tường dài 8,93m, cao 2,15m; rộng 10cm (được giới hạn bởi các điểm 25', C, 26, 26', 10, D, 10', 25) ( Có sơ đồ kèm theo).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.
Các đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận các yêu cầu khác của các bên đương sự.
- Về án phí :
- + Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi nên miễm án phí dân sự sơ thẩm cho bà H.
- Anh Nguyễn Văn C phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
- + Án phí phúc thẩm: Xung công quỹ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà Nguyễn Thị V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005847 ngày 20/8/2024 của Chi cục dân sự huyện H, thành phố Hà nội.
- Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị H do bà H là người cao tuổi.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tuyết Băng |
Bản án số 165/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 165/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Thị V và bị đơn Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C
