|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2024/HSST
Ngày 22 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Các Hội thẩm nhân dân: |
Ông Vũ Ngọc Hoan Ông Nguyễn Hoàng Tú Ông Nguyễn Văn Tài |
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Huy Khang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai A – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 165/2024/HSST, ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 8 năm 2001, tại: Hậu Giang; Cư trú: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở: Phòng số 6, nhà trọ số G đường số G nối dài, phường T, quận B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1966; Họ và tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm: 1964; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giam từ ngày 20/01/2024 (có mặt).
2. Nguyễn Thị N1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 04 tháng 6 năm 1990, tại: TP .; Cư trú: 8/5/2/14 B, phường B, quận B, TP .; Nơi ở: Phòng số 6, nhà trọ số G đường số G nối dài, phường T, quận B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1956; Họ và tên mẹ: Phạm Thị P, sinh năm 1956; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giam từ ngày 20/01/2024 (có mặt).
- Những người tham gia tố tụng:
+ Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Bạch T1
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạch Liêu (vắng mặt).
NHẬN THẤY
Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1 đang sống và hoạt động mua bán ma túy cùng Châu Minh T2 và Hồ Văn D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại địa chỉ Phòng số 6, nhà trọ số G đường số G nối dài, phường T, Q, TP ., trong đó T2 có vai trò là chủ mưu, cầm đầu. Ma túy do T2 nhập về bán, sau đó T2 nhờ L đăng các bài viết bán ma túy lên các hội nhóm kín trên Facebook (không nhớ rõ tên các hội nhóm) để tìm kiếm khách mua ma túy. Khi có khách liên hệ hỏi mua thì L sẽ báo lại cho T2 để T2 chuẩn bị ma túy, N1 có nhiệm vụ phụ T2 trao đổi việc mua bán ma túy với khách, sau đó T2 sẽ nhờ L, N1, hoặc Dừa đi giao ma túy cho khách. Khi khách nhận ma túy đá thì có thể giao tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản của T2 hoặc tài khoản của N1, sau đó N1 sẽ chuyển lại cho T2. Đơn hàng ma túy dao động từ. 200.000 đồng đến 300.000 đồng, cao nhất là khoảng 900.000 đồng, tiền ship ma túy do khách mua chỉ trả. T2 không trả tiền công cho L, N1 và D, chỉ cho ở, ăn uống và sử dụng ma túy không lấy tiền, cụ thể như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 20/01/2024, có một người khách (không rõ lai lịch) sử dụng zalo, số điện thoại 0367.054.xxx liên hệ với L hỏi mua 01 góc tư ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh, giao qua khu vực đường Y, quận B. L báo cho T2 biết và T2 báo giá tiền ma túy là 900.000 đồng và tiền nỏ thủy tinh là 50.000 đồng, tiền ship qua quận B là 100.000 đồng, tổng 1.050.000 đồng. T2 nói N1 đi giao ma túy chung với L. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày L điều khiển xe máy BS: 94B1-439.75 chở N1 đi giao ma túy thì trên đường Đ có dặn L là “cất ma túy cẩn thận” nhưng L nói “anh T2 chưa đưa ma túy cho em” nên cả hai quay về lấy ma túy. Ngon gặp T2 lấy 01 gói nylon đựng 06 gói ma túy và 01 nỏ thủy tỉnh. Ngon cất nỏ thủy tinh trong túi quần và quấn 06 gói ma túy bằng khẩu trang đen cầm trên tay rồi cùng L đi đến quận B giao ma túy. Khi đi đến trước nhà số E Y, Phường A, quận B thì bị Công an P1, quận B kiểm tra hành chính L chở Nguyễn Thị N1, do lo sợ khi thấy Công an kiểm tra hành chính nên N1 ném gói ma túy xuống đất thì bị phát hiện. Qua kiểm tra phát hiện ngay vị trí L, N1 đứng có 01 gói nylon đựng 06 gói nylon chứa tinh thể không màu mà L và N1 khai là ma túy được bọc trong 01 khẩu trang màu đen. Ngon tự giao nộp từ trong túi quần bên trái phía trước N1 đang mặc 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma nên đã lập biên bản thu giữ vật chứng và mời L, N1 về trụ sở để làm rõ.
Ngoài ra, L và N1 còn khai nhận cách ngày bị bắt giữ khoảng 2 ngày, L và N1 cùng đi giao ma túy cho T2 ở Quận A (không nhớ rõ địa điểm), người mua trả tiền cho T2.
Tiến hành khám xét địa chỉ Phòng số 6, nhà trọ số G đường số G nối dài, phường T, quận B, TP .. Tại thời điểm khám xét không có mặt của Châu Minh T2 và Hồ Văn D, qua khám xét thu giữ:
- 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 05 nỏ thủy tinh; 10 ống hút nhựa;
- 50 gói nylon không chứa gì; 02 cân điện tử, 01 kéo kim loa
- 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Châu Minh T2.
- 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.
Kết luận giám định số 1634/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: 06 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn khối lượng 1,9139g loại Methamphetamine.
Qua xác minh đối tượng Châu Minh T2, Sinh ngày: 26/06/2002, Nơi thường trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu hiện tại T2 đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm T2 nhưng đến nay chưa truy tìm được.
Cơ quan điều tra đã có Quyết định tách vụ án hình sự sự số 3761 ngày 16/6/2024 đối với Châu Minh T2 và Hồ Văn D cùng số vật chứng có liên quan ra riêng để tiếp tục xác minh xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1:
- + 06 gói nylon chứa tinh thể không màu (qua giám định là ma túy có khối lượng 1,9139g loại Methaphetamine)
- + 01 khẩu trang màu đen: đây là dụng cụ N1 dùng để cất giấu ma túy.
- + 01 nỏ thủy tỉnh: Ngon mang đi bán cho khách để khách dùng vào việc sửa dụng ma túy.
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng của N1: Ngon dùng để liên lạc, chuyển tiền mua bán ma túy.
- + 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen của N1
- + 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen của L: L dùng để đăng các bài viết mua bán ma túy, liên lạc mua bán ma túy với N1, D, T2.
- + 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.
- Thu giữ của Châu Minh T2 (đã được tách ra để xử lý riêng theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 3761 ngày 16/6/2024)
- + 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 02 nỏ thủy tỉnh, 02 bình nhựa, 02 ống hút); 05 nỏ thủy tinh; 10 ống hút nhựa: đây là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ tại nhà của T2.
- + 50 gói nylon không chứa gì; 02 cân điện tử; 01 kéo kim loại: đây là dụng cụ dùng để phân chia ma túy.
- + 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Châu Minh T2.
- + 01 xe moto hiệu Vario màu đỏ, biến số 94B1 - 439.75, số khung: KF41E1715607; số máy: MHIKF4115KK712916. Kết quả giám định số khung, số máy nguyên thủy không thay đổi. Qua xác minh xe trên có chủ sở hữu là Võ Thị Bạch T1 (SN: 1978 Địa chỉ: Á, xã L, huyện Đ, Bạc Liêu). Hiện nay bà T1 không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ. L khai xe này do T2 đưa cho L để chở N1 đi bán mà túy.
Tại bản cáo trạng số 156/CTr-VKSBTh ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ phẩm, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện Kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1, mỗi bị cáo từ 7 đến 8 năm tù. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận, các bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để tuyên các bị cáo mức án nhẹ nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1 khai nhận: Các bị cáo cùng thuê nhà trọ ở cùng với Châu Minh T2 và Hồ Văn D. Để có tiền tiêu xài, các bị cáo nhận lời bán ma túy và đi giao ma túy cho Minh T2. Các bị cáo đã 02 lần đi bán ma túy cho người mua. Số ma túy này do T2 giao cho các bị cáo đi bán. Vào lúc 18 giờ 30 phút, khi đang đem ma túy đi giao cho 01 người không rõ lai lịch tại địa chỉ số E đường Y, phường A, quận B thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai của các bị cáo, bản tự khai, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tài sản, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 40 phút, ngày 20 tháng 01 năm 2024, lập tại Công an P2, quận B đã thu giữ 06 gói nylon chứa tinh thể không màu cùng vật chứng của vụ án.
Kết luận giám định số 1634/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: 06 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn khối lượng 1,9139g loại Methamphetamine.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luật hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1 phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước; là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ các chất ma túy mà các bị cáo thực hiện hành vi mua bán là chất hướng thần, kích thích, gây ảo giác và có tính độc hại cao. Người đã sử dụng và lệ thuộc vào ma túy thì ngoài việc tổn hại đến sức khỏe, kinh tế của bản thân và gia đình còn có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Gây mất trật tự an ninh xã hội; gây lo lắng trong quần chúng nhân dân, đây cũng là nguồn gốc làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác. Do đó, hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phải nghiêm khắc theo quy định mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt, tùy theo nhân thân mỗi bị cáo.
Xem xét các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, không công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- + 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số vụ”542/24” là tinh thể không màu; 01 khẩu trang màu đen; 01 nỏ thủy tinh. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng của bị cáo N1; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen của bị cáo L. Đây là vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L, là giấy tờ tuy thân, trả lại cho bị cáo L. 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen của bị cáo N1 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo N1.
- - Thu giữ của Châu Minh T2 (đã được tách ra để xử lý riêng theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 3761 ngày 16/6/2024) gồm: 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 02 nỏ thủy tỉnh, 02 bình nhựa, 02 ống hút); 05 nỏ thủy tinh; 10 ống hút nhựa. 50 gói nylon không chứa gì; 02 cân điện tử; 01 kéo kim loại; 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe mang tên Châu Minh T2 và 01 xe moto hiệu Vario màu đỏ, biến số 94B1 - 439.75, số khung: KF41E1715607; số máy: MHIKF4115KK712916. Kết quả giám định số khung, số máy nguyên thủy không thay đổi. Qua xác minh xe trên có chủ sở hữu là Võ Thị Bạch T1 (SN: 1978 Địa chỉ: Á, xã L, huyện Đ, Bạc Liêu). Hiện nay bà T1 không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ. L khai xe này do T2 đưa cho L sử dụng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-
Về tội danh và hình phạt:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị N1.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số vụ”542/24” là tinh thể không màu; 01 khẩu trang màu đen; 01 nỏ thủy tinh.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen.
- + Trả lại cho bị cáo L 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L. Trả lại cho bị cáo N1 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen.
- Theo biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 09 giờ 15 phút, ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hoan |
Bản án số 165/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 165/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L Nguyễn Thị N1 251
