|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2024/HSST
Ngày: 22-04-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 04 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2024 hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Đăng K, sinh năm 1983 tại: Thành phố Hồ Chí Minh, Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: 187 đường số B, tổ dân phố G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Trung H và bà Trần Thị Bích L; Có 01 người con sinh năm 2011; Tiền sự, Tiền án: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 109/2014/HSST ngày 30/07/2014 của Tòa án quận 9 (Nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Phạm Đăng K 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phạm Đăng K đã thi hành xong các khoản phải thi hành được nêu trong bản án và đã chấp hành xong hình phạt tù theo giấy chứng nhận số 702/GCN ngày 28/09/2018 tại trại giam X; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/9/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Tấn S, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: C7D/44 P, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, tổ tuần tra 363 Công an thành phố Thủ Đức phối hợp cùng Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về Ma túy tuần tra đến trước nhà số D N, phường A, thành phố T thì phát hiện Phạm Đăng K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số: 59T1–270.65 có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu lệnh kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi đựng dụng cụ sữa chữa điện lạnh có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu bên ngoài quấn băng keo trắng nghi là ma túy nên tổ Công tác đưa đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an phường A, thành phố T xác minh làm rõ sự việc.
Tại Cơ quan Công an, Phạm Đăng K khai nhận: Khoa sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2022 nhưng không thường xuyên. Khoảng 18 giờ ngày 23/9/2023, K điều khiển xe mô tô nêu trên đi một mình từ huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực đường H, thuộc quận E, Thành phố Hồ Chí Minh tìm mua ma túy đá để sử dụng. Khi đến trước nhà số I H, K gặp 01 người đàn ông tên P (không rõ họ tên, địa chỉ). Người tên P đưa cho K 01 gói ma túy đá (được quấn băng keo màu trắng), K đưa cho người tên P số tiền 200.000 đồng. Mua được ma túy, K cất vào túi vải màu đen rồi bỏ vào túi đựng dụng cụ sửa đồ điện lạnh của mình và đi sữa điện lạnh cho khách ở trên đường L, thành phố T. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, trong lúc K đi trên đường về nhà ở huyện B thì bị Tổ Công tác kiểm tra phát hiện như trên.
Kết luận giám định số 10575/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Đăng K; hình dấu Công an phường A, thành phố T; bên trong chứa ma túy khối lượng là 0,1880 gam loại Methamphetamine.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 2080/23 (10575), hình dấu công an phường A, thành phố T, có chữ ký Giám định viên Võ La Bảo Y, cán bộ Nguyễn Thị Phương M, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen bên trong có số sim: 0792407726 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số: 59T1 – 270.65 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).
- - 01 (một) túi vải màu đen.
Quá trình điều tra, Phạm Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 143/CT-VKSTPTĐ ngày 14/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Đăng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Đăng K từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Đăng K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 23/9/2023, K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave S, biển số: 59T1–270.65 đi đến khu vực đường H, thuộc Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 gói ma túy đá, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1880 gam của một người tên P với giá 200.000 đồng về để sử dụng, trên đường đi về nhà thì bị bắt quả tang. Hành vi Phạm Đăng K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Phạm Đăng K về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Đăng K là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn do đó cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Đối với đối tượng tên P chưa rõ lai lịch, bán ma túy cho K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[6] Xử lý vật chứng:
- - 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 2080/23 (10575), hình dấu công an phường A, thành phố T, có chữ ký Giám định viên Võ La Bảo Y, cán bộ Nguyễn Thị Phương M, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) túi vải màu đen là tang vật trong vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen bên trong có số sim: 0792407726 bị cáo sử dụng để liên lạc mua túy là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - 01 xe mô tô Honda Wave S, biển số: 59T1 – 270.65 là của anh Nguyễn Tấn S. Anh S cho Phạm Đăng K mượn để đi làm không biết K sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại cho anh Nguyễn Tấn S là có căn cứ.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Phạm Đăng K 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 2080/23 (10575), hình dấu công an phường A, th ành phố T, có chữ ký Giám định viên Võ La Bảo Y, cán bộ Nguyễn Thị Phương M, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) túi vải màu đen.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen bên trong có số sim: 0792407726.
(Theo Phiếu kho số NK 24/229C ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Đăng K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
- Tòa án NDTP.HCM; - VKSNDTP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Công an TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 165/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 165/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
