|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày: 12-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công.
Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Thái Vương Triều, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 và 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2024/TLST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn B, sinh năm 2003, tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Lê Thị T (không rõ năm sinh, địa chỉ). Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Như S, sinh năm 1983, địa chỉ: Số D khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Văn L, sinh năm 1987, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn B là đối tượng không có nơi cư trú ổn định, trong quá trình sống lang thang tại thành phố T, tỉnh Bình Dương, B quen biết đối tượng tên A (A nói giọng miền bắc, khoảng 30 tuổi, dáng người thấp, da ngăm đen, có hình xăm trên cánh tay phải). Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, B gặp A tại khu vực phường A, tại đây, A rủ B đi trộm cắp tài sản của người dân đem bán lấy tiền tiêu xài, B đồng ý. Thực hiện ý định, A điều khiển xe mô tô không rõ nhãn hiệu, biển số chở theo B lưu thông trên các tuyến đường của thành phố T để tìm trộm xe mô tô. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày 13/11/2023, khi A và B lưu thông đến đoạn đường phía trước ki-ốt số 480/5 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Trắng - Xanh, biển số: 36C2-216.06 dựng phía trước ki-ốt và chìa khóa được cắm trên ổ khóa xe. Thấy xe mô tô biển số: 36C2-216.06 không có người trông coi, A ngồi trên xe đợi ngoài đường cảnh giới, B lén lút đi vào ngồi lên xe mô tô biển số 36C2-216.06, mở khoá, khởi động và điều khiển xe ra đường, cùng A bỏ chạy. Cùng lúc, ông Nguyễn Như S đang ở trong ki-ốt, thấy B điều khiển xe của ông S bỏ chạy nên ông S chạy ra ngoài truy hô và đuổi theo B. Khi đến khu vực ngã ba đường T 25 giao nhau với đường không tên dẫn vào trường Trung học cơ sở T1 thuộc khu phố B, phường T, thành phố T thì đuổi kịp, ông S cùng người dân bắt giữ bình giao B cho Công an phường T lập biên bản bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn: Trắng - Xanh, biển số: 36C2-216.06, số khung: RLCUE3710NY389988, số máy: E32VE683300.
Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 21/11/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại: Sirius, màu sơn: Trắng - Xanh, biển số: 36C2-216.06, số khung: RLCUE3710NY389988, số máy: E32VE683300, đăng ký lần đầu tháng 12/2022, tại thời điểm ngày 13/11/2023 có giá trị là: 12.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 151/CT-VKS -TA ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt đối với bị cáo:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn B, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng: như nội dung cáo trạng đã nêu.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố. Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và mong muôn được xử mức án nhẹ.
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, đã có đầy đủ lời khai, việc vắng mặt của bị hại, người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với quy định Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.
[2] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tổ tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 13/11/2023, Lê Văn B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn Trắng - Xanh, biển số 36C2-216.06, số khung RLCUE3710NY389988, số máy E32VE683300 của ông Nguyễn Như S có giá trị theo định giá là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động mà bị cáo bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i,s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[8] Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
[10] Đối với đối tượng tên A có hành vi cùng B trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
[11]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ Điều 136, Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Lê Văn B 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không.
3. Về xử lý vật chứng: Không.
4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |
4
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BINH TROM CAP XE
