|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày 26 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Lan Anh, bà Lèo Thị Chan.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 - 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 ; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 85/2024/QĐ-HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024, số 89/2024/QĐ-HSST ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Lê Kiều A, sinh ngày 14/10/1987; nơi đăng ký thường trú: Tiểu khu D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện nay: Tiểu khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Đình T (đã chết) và bà Bùi Thị K, sinh năm 1959; chồng là Hoàng Văn H và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/01/2024 đến ngày 02/02/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Vũ Thị H1, sinh ngày 16/10/1990; nơi đăng ký thường trú: Tiểu khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vũ Xuân T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958; chồng là Lê Trung K1 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/01/2024 đến ngày 02/02/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Thị Bích H3, sinh ngày 6/8/1990; nơi đăng ký thường trú: Số C, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hoàng T2, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1958; chồng là Bùi Ngọc Q và có 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Cầm Kiều O, sinh ngày 12/05/1991; nơi đăng ký thường trú: Bản M, xã Q, huyện P, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cầm Văn Ú, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1966; chồng là Phạm Văn N1, sinh năm1987 và có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Đỗ Thị Kim T3, sinh ngày 17/9/1989; nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: Bản K, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Đỗ Ngọc T4, sinh năm 1969 và bà Đào Thị D, sinh năm 1971; chồng là Dương Minh N2, sinh năm 1991 và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Hoàng Văn H, sinh ngày 18/10/1985 tại huyện P, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Lê Kiều A là lao động tự do sinh sống trên địa bàn huyện P, tỉnh Sơn La. Lê Kiều A nhận thấy có thể kiếm tiền bằng việc cá cược số lô, số đề thắng thua bằng tiền nên đã nảy sinh ý định mua, bán số lô, số đề trái phép tại địa bàn thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La. Năm 2023 Lê Kiều A đã trao đổi và thỏa thuận với Vũ Thị H1, Cầm Kiều O, Hoàng Thị Bích H3, Đỗ Thị Kim T3 cùng một số đối tượng khác về việc nhận mua bán các số lô, số đề không được Nhà nước cho phép để thu lợi bằng cách thức nhắn tin qua điện thoại, nick zalo số điện thoại di động cá nhân 0327.160.662 của Lê Kiều A, cụ thể:
Số lô là số có 02 chữ số tự nhiên, các số lô được so với hai số cuối của 27 giải trong giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày đánh, Kiều A nhận từ người đánh là 21.700đ/01 điểm lô, nếu người chơi thắng được thanh toán 80.000đ/01 điểm lô, nếu người chơi thua sẽ mất số tiền đã đánh.
Số đề là số có 02 chữ số tự nhiên và được so với hai số cuối giải đặc biệt của xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày đánh. Nếu trúng thì người đánh thắng được trả gấp 70 lần số tiền họ đánh, ngược lại nếu không trúng thì Lê Kiều A được hưởng 72.000đ/100.000đ của người chơi (ví dụ: 01 số đề người chơi đánh 100.000đ thì chỉ phải trả cho Kiều A 72.000₫).
Số ba càng là số có 03 chữ số và được so với ba số cuối giải đặc biệt của xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày đánh. Nếu trúng thì người đánh thắng và được trả gấp 350 lần số tiền họ đánh, ngược lại nếu không trúng thì Lê Kiều A được hưởng 72.000đ/100.000₫ của người chơi (theo thỏa thuận ví dụ 01 ba càng người chơi đánh 100.000đ thì chỉ phải trả cho Kiều A 72.000₫).
Xiên: Có ba loại là Xiên 2 gồm 2 cặp số, Xiên 3 gồm 3 cặp số, Xiên 4 gồm 4 cập số. Các cặp số được so với 02 số cuối của 27 giải của xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày đánh, nếu các cặp số này đồng thời về trong các giải thì người đánh thắng và được trả gấp 10 lần tiền đánh Xiên 2, gấp 40 lần tiền đánh Xiên 3, gấp 100 lần tiền đánh xiên 4, còn người chơi thua Lê Kiều A được hưởng số tiền họ đã đánh.
Đánh bộ gồm các cặp số tự nhiên, có bộ K2 và bộ không kép (Bộ kép bao gồm các số: 11,22,33,.. ví dụ bộ A1 gồm các số: 11,66,16,61; bộ C gồm các số: 33,88,38,83,... Bộ không kép bao gồm các cặp số tự nhiên còn lại, ví dụ bộ 12 gồm: 12,21,17,71,67,76,26,62) và được so với hai số cuối giải đặc biệt của xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày đánh. Nếu trúng một trong các số đã chơi của bộ đó thì người đánh thắng được trả gấp 70 lần số tiền họ đánh, ngược lại nếu người đánh không trúng số của giải đặc biệt ngày hôm đó thì Lê Kiều A được hưởng 72.000đ/100.000₫ của người chơi (theo thỏa thuận ví dụ 01 số bộ người chơi đánh 100.000đ thì chỉ phải trả cho Lê Kiều A 72.000đ).
- Ngày 27/01/2024 Lê Kiều A đã nhận của người chơi số lô, số đề được quy đổi ra tiền sử dụng đánh bạc trái phép là 195.738.000 đồng, gồm: Vũ Thị H1, sinh năm 1990, trú tại Tiểu khu C, thị trấn P, huyện P số tiền 10.541.000đ. Cầm Kiều O, sinh năm 1991, trú tại bản Mo 1, xã Q, huyện P số tiền 23.048.000đ. Đỗ Thị Kim T3, sinh năm 1989, trú tại bản K, xã H, huyện P số tiền 19.206.000đ. Hoàng Thị Bích H3, sinh năm 1990, trú tại số nhà C, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên số tiền 38.260.000đ.
Nick zalo "Lo A L" số tiền 23.526.000đ, nick zalo "Tao đây” số tiền 6.830.000đ, nick zalo "Lo Anh M" số tiền 13.576.000đ, nick zalo “Anh” số tiền 2.326.000đ, nick zalo “Chieu tim” số tiền 8.202.000đ, nick zalo “Lenh Hoi Xung” số tiền 13.909.000đ, nick zalo “A Páo” số tiền 3.517.000đ, nick zalo “M” số tiền 4.709.000đ. Từ số điện thoại 0373.503.xxx số tiền 5.792.000đ, số điện thoại 0866.380.xxx số tiền 11.463.000đ, số điện thoại 0377.529.xxx số tiền 10.833.000đ, đến 18h15' cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang chưa mở thưởng xổ số miền bắc 27/01/2024.
Đối với Nick Z "Lo A L"; N3 "Tao Đây" có tin nhắn mua số lô, số đề với Lê Kiều A, Kiều A khai nhận của T5 ở bản M, P; N3 zalo "Lo Anh M" là Nguyễn Văn D1 ở Bản M, Quang H5, P, Sơn La; Nick Zalo "Anh" tên là D2 ở trị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La; Nick Zalo "Tuổi Tin", "Đại Phát", "Chieu tim", "Lenh Hoi X", và số điện thoại 0373.503.xxx, 0866380729, 0377529002 là của người phụ nữ tên H6 ở T, B; N "A Páo" là của Thanh H7 ở xã Q, huyện P; N "M" tên là N4 ở thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể, ngoài tài liệu nêu trên không còn căn cứ nào khác, nên không tiến hành điều tra xác minh được, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với các số điện thoại 0377.529.xxx dược xác định của Lò Văn Đ, sinh ngày 18/02/2002, trú tại Bản E, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La, Đ khai không được sử dụng số điện thoại nếu trên; Số điện thoại 0373.503.xxx được xác dịnh là của Lò Thị X1, sinh ngày 24/4/1984, trú tại Tiểu khu A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La. Lò Thị X1 khai không được đăng ký, sử dụng số điện thoại nêu trên; Số điện thoại 0866.380.xxx được xác định của Nguyễn Thanh H8, sinh ngày 15/9/1977, trú tại Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An; Số diện thoại 0327.160.662 được xác định là của Quàng Thị L1, sinh ngày 01/01/1976; trú tại: bản H, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La, Quàng Thị L1 khai không được đăng ký sử dụng số điện thoại nêu trên, bị cáo Lê Kiều A khai đây là sim rác do Kiều A mua để sử dụng, không biết chủ thuê bao là ai; Số điện thoại 0987.866.xxx được xác định là của Phùng Thúy H9, sinh ngày 16/3/2000, trú tại Tiểu khu H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La, H9 khai không được đăng ký sử dụng số thuê bao trên, bị cáo Hoàng Thị Bích H3 khai đây là sim rác do H3 mua để sử dụng, không biết chủ thuê bao là ai; Số điện thoại 0357.447.xxx được xác định là của Hà Thị T6, sinh ngày 02/9/1990 trú tại bản Ếch, xã M, huyện P, tính S, T6 khai không được đăng ký sử dụng số điện thoại nêu trên, Đỗ Thị Kim T3 khai số điện thoại trên là sim rác T3 mua để sử dụng, không biết chủ thuê bao là ai; Số điện thoại 0968.197.xxx được xác định là của Vũ Thị H1, sinh ngày 16/10/1990, trú tại tiều khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La, số điện thoại Vũ Thị H1 sử dụng đăng ký chính chủ; Số điện thoại 0989.909.xxx được xác định là của Cầm Kiều O, sinh ngày 12/5/1990, trú tại Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, số điện thoại O sử dụng đăng ký chính chủ; Số điện thoại 0962.648.xxx được xác định của Đỗ Thị Kim T3, sinh ngày 17/9/1989, trú tại bản K, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La sử dụng đăng ký chính chủ để sử dụng mua bán số lô, số đề.
- Ngày 27/01/2024 Vũ Thị H1 sử dụng zalo "Vu Thi Huong" để nhận số lô, số đề của người chơi, sau đó H1 chuyển toàn bộ số tin nhắn đó cho Lê Kiều A. Về hình thức H1 thỏa thuận với người chơi 01 điểm lô nhận của người chơi 22.000đ, sau đó chuyển cho Kiều A 21.700đ/01 điểm lô, H1 được hưởng 300đ/01 điểm lô. Nếu người chơi thắng H1 nhận tiền từ Lê Kiều A thanh toán cho H1 để thanh toán cho người trúng số đã đánh, với tỷ lệ 1 điểm lô họ đánh trúng phải thanh toán là 80.000đ; Tiền số đề H1 thu 75.000đ và chuyển cho Kiều A 72.000đ, H1 được hưởng 3.000đ/100.000đ của người chơi. Tổng số tiền nhận của người chơi 11.333.000đ, gồm Nick zalo "Nguyễn Thủy" số tiền 4.273.000đ, nick zalo "Hà Huế" số tiền 3.400.000đ và Nguyễn Thị L2, sinh năm 1979, trú tại Tiểu khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La số tiền 3.660.000đ, sau đó chuyển cho Lê Kiều A là 10.541.000₫.
Đối với Nguyễn Thị L2 sử dụng số điện thoại 0969.288.xxx nhắn tin mua số lô, số đề với Vũ Thị H1, tổng số tiền cá cược là 3.660.000đ. Kết quả điều tra xác định nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, số tiền cá cược dưới 5.000.000đ, do đó hành vi của Nguyễn Thị L2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/4/2024 Công an thị trấn P, huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000đ.
Đối với Nick Z "Nguyễn Thủy" có tin nhắn mua số lô, số đề với Vũ Thị H1, H1 khai của người có tên là T7, nhà ở khu C, T, huyện P, tỉnh Sơn La, hiện sinh sống ở Hưng Yên, nhưng không biêt địa chỉ cụ thể; Nick Z "H" chỉ nghe nói Huế ở khu L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La không biết địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể, ngoài tài liệu nêu trên không còn căn cứ nào khác, nên không thể tiến hành điều tra xác minh được, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3, Hoàng Thị Bích H3 khai nhận: Trước ngày bị bắt quả tang, các bị cáo có thực hiện việc mua bán số lô, số đề với nhau, tuy nhiên các con số đánh khi bị bắt giữ, thu giữ điện thoại đã bị xóa, các bị cáo không nhớ được các số đã đánh và số tiền đã đánh nên không có căn cứ để điều tra xác minh.
Vật chứng thu giữ: Cơ quan An ninh điều tra đã thu giữ của Lê Kiều A 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen bên trong có 01 sim số 0327.160.662; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu xanh dương, máy đã qua sử dụng lắp 01 sim số thuê bao 0988.187.176. Tạm giữ của Vũ Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PROMAX màu xám TITAN bên trong có 01 sim số 0968.197.290 để phục vụ công tác điều tra.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 94/CT-VKS-P1 ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lê Kiều A về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Tranh tụng tại phiên toà:
- Các bị cáo Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Kiều A phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- + Áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Kiều A từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- + Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H1 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- + Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cầm Kiều O từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- + Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Bích H3 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- + Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim T3 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- + Về xử lý tài sản, vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 15 Promax của Vũ Thị H1, 01 điện thoại Iphone 8 Plus của Lê Kiều A. Trả cho Lê Kiều A 01 điện thoại Iphone 12 Promax.
Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 104.638.000 đồng của Lê Kiều A; số tiền 11.333.000 đồng của Vũ Thị H1; số tiền 23.048.000 đồng của Cầm Kiều O; số tiền 19.206.000 đồng của Đỗ Thị Kim T3 và số tiền 38.260.000 đồng của Hoàng Thị Bích H3.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Các bị cáo nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Bị cáo Lê Kiều A đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền truy thu mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, vì bị cáo chưa được nhận từ người chơi số lô, số đề khoản tiền này. Hơn nữa, các số lô, số đề của những người chơi gửi đến điện thoại của bị cáo có người bị cáo nhận mua thì bị cáo trả lời “OK”, còn số lô, số đề nào bị cáo không nhận mua thì bị cáo không trả lời.
- Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, đối đáp: Đối với đề nghị xem xét lại số tiền truy thu của bị cáo Lê Kiều A, quá trình điều tra và truy tố xác định số tiền truy thu của bị cáo căn cứ trên nội dung tin nhắn thu thập trong dữ liệu điện thoại được xác định số tiền bị cáo Lê Kiều A nhận mua số lô, số đề là 195.738.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội. Đề nghị Hội đồng xem xét theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người này không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên toà có căn cứ xác định: Ngày 27/01/2024, bị cáo Lê Kiều A đã thực hiện hành vi tổ chức cho Vũ Thị H1, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3, Hoàng Thị Bích H3 và các đối tượng khác mua bán số lô, số đề trái phép được thua bằng tiền có giá trị lớn. Trong đó, Lê Kiều A thực hiện nhận mua số lô, số đề từ các đối tượng với tổng số tiền là 195.738.000 đồng, gồm: Vũ Thị H1 10.541.000 đồng; Hoàng Thị Bích H3 38.260.000 đồng; Cầm Kiều O 23.048.000 đồng; Đỗ Thị Kim T3 19.206.000 đồng. Nick zalo "Lo A L" số tiền 23.526.000 đồng; nick zalo "Tao đây” số tiền 6.830.000 đồng; nick zalo "Lo Anh M" số tiền 13.576.000 đồng; nick zalo “Anh” số tiền 2.326.000 đồng; nick zalo “Chieu tim” số tiền 8.202.000 đồng; nick zalo “Lenh Hoi X” số tiền 13.909.000 đồng; nick zalo “A P” số tiền 3.517.000 đồng; nick zalo “M” số tiền 4.709.000 đồng. Từ số số điện thoại 0373.503.xxx số tiền 5.792.000 đồng; từ số điện thoại 0866.380.xxx số tiền 11.463.000 đồng và từ số điện thoại 0377.529.xxx số tiền 10.833.000 đồng.
Bị cáo Vũ Thị H1 tham gia đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề trái phép với bị cáo Lê Kiều A tổng số tiền là 11.333.000 đồng (Trong đó có 10.541.000 đồng chuyển bảng cho Lê Kiều A và 792.000 đồng Hương giữ lại hưởng lợi).
Các bị cáo Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 tham gia đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép với bị cáo Lê Kiều A, cụ thể: Hoàng Thị Bích H3 số tiền 38.260.000 đồng; Cầm Kiều O số tiền 23.048.000 đồng; Đỗ Thị Kim T3 số tiền 19.206.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan an ninh điều tra lập hồi 18 giờ 15 phút ngày 27/01/2024 tại Tiểu khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La đối với Vũ Thị H1 và Lê Kiều A về hành vi đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề cùng vật chứng thu giữ của Vũ Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PRO MAX màu xám và của Lê Kiều A 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen bóng.
Biên bản kiểm tra, thu thập dữ liệu trong điện thoại và niêm phong lại hồi 21 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, tại Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen bóng kèm theo 46 ảnh chụp nội dung tin nhắn mua bán số lô, số đề của Lê Kiều A với các đối tượng trong ứng dụng Zalo.
Biên bản kiểm tra, thu thập dữ liệu trong điện thoại và niêm phong lại hồi 21 giờ 20 phút ngày 27/01/2024, tại Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PRO MAX màu xám TITAN kèm theo 10 ảnh chụp nội dung tin nhắn mua bán số lô, số đề của Vũ Thị H1 với các đối tượng trong ứng dụng Zalo, ứng dụng tin nhắn; 06 ảnh chụp nội dung tin nhắn qua ứng dụng zalo của Cầm Kiều O với nick zalo tên “Ngọc N5”; 04 ảnh chụp nội dung tin nhắn qua ứng dụng zalo của Đỗ Thị Kim T3 với nick zalo tên “Thành Đạt” và 06 ảnh chụp nội dung tin nhắn của Hoàng Thị Bích H3 thể hiện việc mua bán số lô, số đề.
Bản sao sao kê tài khoản ngân hàng B mang tên Lê Kiều A; tài khoản ngân hàng B số 4110649116 mang tên Đỗ Thị Kim T3; tài khoản ngân hàng số 3900851706 mang tên Hoàng Thị Bích H3; tài khoản ngân hàng B số 4110447213 mang tên Cầm Kiều O và ngân hàng A2 số 7909205080323 mang tên Cầm Kiều O.
Báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc điện thoại và SMS của chủ các số thuê bao 0987.866.911; 0373.503.895; 0866.380.729; 0377.529.002; 0962.648.846; 0357.447.146; 0327.160.662; 0968.197.290; 0865.531.971; 0989.909.683 và 0869.288.606.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội và phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc cơ quan chức năng bắt giữ các bị cáo Vũ Thị H1, Lê Kiều A cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Với các căn cứ chứng minh nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lê Kiều A đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm được quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.
[4] Về khung hình phạt áp dụng:
Bị cáo Lê Kiều A tổ chức cho người khác đánh bạc với tổng số tiền là 195.738.000 đồng, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”.
Bị cáo Vũ Thị H1 tham gia đánh bạc với số tiền là 11.333.000 đồng; bị cáo Hoàng Thị Bích H3 tham gia đánh bạc với số tiền 38.260.000 đồng; bị cáo Cầm Kiều O tham gia đánh bạc với số tiền 23.048.000 đồng; bị cáo Đỗ Thị Kim T3 tham gia đánh bạc với số tiền 19.206.000 đồng, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có căn cứ áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 đã trực tiếp xâm phạm đến quản lý Nhà nước về trật tự công cộng. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với từng bị cáo mới bảo đảm tính giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo như: Các bị cáo đều đang nuôi con nhỏ, đặc biệt bị cáo Lê Kiều A và bị cáo Đỗ Thị Kim T3 đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị cáo Đỗ Thị Kim T3 bị bệnh hiểm nghèo nên cần xem xét vận dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Kiều A và bị cáo Đỗ Thị Kim T3.
Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; các bị cáo đều có đơn xin cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận. Đối chiếu với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, việc cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, cần chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321, khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Căn cứ kết quả điều tra, xác minh tình trạng tài sản và thu nhập của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo phạm tội nhằm mục đích hưởng lợi, nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, phạt bổ sung mỗi bị cáo một khoản tiền nhất định.
[8] Về các đối tượng khác trong vụ án:
Đối với hành vi của bị cáo H1 sử dụng zalo "Vu Thi Huong" để nhận số lô, số đề của người chơi, sau đó H1 chuyển toàn bộ số tin nhắn đó cho Lê Kiều A. Tổng số tiền nhận của người chơi 11.333.000đ, gồm Nick zalo "Nguyễn Thủy" số tiền 4.273.000đ, nick zalo "Hà Huế" số tiền 3.400.000₫ và Nguyễn Thị L2, sinh năm 1979, trú tại Tiểu khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La số tiền 3.660.000₫, sau đó chuyển cho Lê Kiều A là 10.541.000đ. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị L2 sử dụng số điện thoại 0969.288.xxx nhắn tin mua số lô, số đề với Vũ Thị H1, tổng số tiền cá cược là 3.660.000₫ (Ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng); nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, số tiền cá cược dưới 5.000.000 đồng, do đó hành vi của Nguyễn Thị L2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" quy định tại Điều 321 - Bộ luật Hình sự. Ngày 23/4/2024 Công an thị trấn P, huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000₫ là có căn cứ. Đối với hai người chơi còn lại là nick zalo “Nguyễn T8” và “Hà Huế” Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể, ngoài tài liệu nêu trên không còn căn cứ nào khác, nên không thể tiến hành điều tra xác minh được. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Vũ Thị H1 về tội Đánh bạc là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đối với các nick zalo và số điện thoại: Nick Zalo "Lo A L"; N3 "Tao Đây"; N3 zalo "Lo Anh M"; Nick Z "Anh", Nick Z "Tuổi Tin", "Đại Phát", "Chieu tim", "Lenh Hoi X", và số điện thoại 0373.503.xxx, 0866380729, 0377529002; Nick Zalo "A Páo"; Nick Z "M"; Nick Z "N" Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể, ngoài tài liệu nêu trên không còn căn cứ nào khác, nên không thể tiến hành điều tra xác minh được, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với các số điện thoại 0377.529.xxx; 0373503895; 0866380729; 0327.160.662; 0987866911; 0357.447.146: Quá trình điều tra xác định, các số thuê bao nói trên không phải của chủ tài khoản đăng ký sim hoặc không xác định được con người cụ thể. Do đó, không có căn cứ để xử lý.
Trong quá trình điều tra các bị cáo khai nhận trước đó từ năm 2023 đến trước ngày bị bắt quả tang Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3, Hoàng Thị Bích H3 còn thực hiện việc mua bán số lô, số đề với nhau, tuy nhiên các con số đánh khi bị bắt, thu giữ điện thoại đã được xóa, các bị cáo không nhớ và không xác định được các số đánh, số tiền đã đánh nên không có căn cứ để điều tra xác minh, xem xét là tình tiết trong vụ án.
[9] Về xử lý vật chứng, tài sản vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PROMAX màu xám TITAN bên trong có 01 sim số 0968.197.290 tạm giữ của Vũ Thị H1 là phương tiện bị cáo dùng để nhận số lô, số đề và chuyển bảng số lô, số đề sang cho Lê Kiều A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen bên trong có 01 sim số 0327.160.662 tạm giữ của Lê Kiều A. Qua kiểm tra, thu thập dữ liệu trong điện thoại xác định điện thoại có chứa nội dung tin nhắn qua ứng dụng zalo với các đối tượng trong việc nhận, chuyển bảng số lô, số đề của những người tham gia chơi. Do đó, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu xanh dương lắp 01 sim số thuê bao 0988.187.176 tạm giữ của Lê Kiều A là phương tiện cá nhân bị cáo đăng ký Smart Banking BIDV số tài khoản 41110000406700 xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền bị cáo Lê Kiều A tổ chức đánh bạc và số tiền các bị cáo Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 tham gia đánh bạc nhưng chưa chuyển trả cho nhau, cơ quan điều tra chưa thu giữ được. Vì vậy, cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước gồm: số tiền 104.683.000 đồng của Lê Kiều A; số tiền 11.333.000 đồng của Vũ Thị H1; số tiền 38.260.000 đồng của Hoàng Thị Bích H3; số tiền 23.048.000 đồng của Cầm Kiều O và số tiền 19.206.000 đồng của Đỗ Thị Kim T3.
[10] Về án phí: Các bị cáo Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3, Hoàng Thị Bích H3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Căn cứ Điều 322 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Kiều A phạm tội Tổ chức đánh bạc.
Căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 phạm tội Đánh bạc.
-
Về hình phạt:
-
2.1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Kiều A 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (Ngày 26/8/2024).
Phạt bổ sung bị cáo Lê Kiều A 20.000.000 đồng.
Giao bị cáo Lê Kiều A cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
-
2.2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H1 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (Ngày 26/8/2024).
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị H1 10.000.000 đồng.
Giao bị cáo Vũ Thị H1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
-
2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Bích H3 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (Ngày 26/8/2024).
Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Thị Bích H3 10.000.000 đồng.
Giao bị cáo Hoàng Thị Bích H3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
-
2.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cầm Kiều O 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (Ngày 26/8/2024).
Phạt bổ sung bị cáo Cầm Kiều O 10.000.000 đồng.
Giao bị cáo Cầm Kiều O cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
-
2.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự . Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim T3 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (Ngày 26/8/2024).
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Thị Kim T3 10.000.000 đồng.
Giao bị cáo Đỗ Thị Kim T3 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật hình sự.
-
2.1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Kiều A 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (Ngày 26/8/2024).
-
Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 3.1. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PROMAX màu xám TITAN bên trong có 01 sim số 0968.197.290 tạm giữ của Vũ Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen bên trong có 01 sim số 0327.160.662 tạm giữ của Lê Kiều A (02 chiếc điện thoại đã được niêm phong theo quy định).
- 3.2. Trả lại cho bị cáo Lê Kiều A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu xanh dương bên trong có 01 sim số 0988.187.176 tạm giữ của Lê Kiều A (đã được niêm phong theo quy định).
- 3.3. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 104.683.000 đồng của bị cáo Lê Kiều A; Số tiền 11.333.000 đồng của bị cáo Vũ Thị H1; Số tiền 23.048.000 đồng của bị cáo Cầm Kiều O; Số tiền 19.206.000 đồng của bị cáo Đỗ Thị Kim T3; Số tiền 38.260.000 đồng của bị cáo Hoàng Thị Bích H3.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê Kiều A, Vũ Thị H1, Hoàng Thị Bích H3, Cầm Kiều O, Đỗ Thị Kim T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Minh |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Kiều A và ĐP
