|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày: 11/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Đình Định và ông Nguyễn Đình Hanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/HSST-QĐXX ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ
, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: Làng Groi, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ là Ngô Thị H, sinh năm 2001 và 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
* Nguyên đơn dân sự:
- Công ty H4; trụ sở: 24 rue de Fauboug S, G-75008 PARIS, F; đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Công ty L1 và Cộng sự, người đại diện theo pháp luật: Phạm Đức T – chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Tầng D, nhà số A, phố N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; đại diện theo ủy quyền là bà Hà Thị Thu T1, có mặt.
- LOUIS VUITTON MELLETIER; trụ sở: 2 rue du P2, 75001 P, F; đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn VINA.IP, người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H1 – chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: P, tầng A, số F L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo ủy quyền là bà Vũ Thị Thu Y, chức vụ: Nhân viên công ty; có mặt.
- CHRISTIAN DIOR COUTURE S.A; trụ sở: 30 avenue Moutaigne, 75008 P, F; đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Công ty L2, người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thanh B – chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân L – chức vụ: Giám đốc bộ phận Sở hữu công nghiệp; địa chỉ: Số A H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội; đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Thanh H2; có mặt.
- CHANEL; trụ sở: 135, avenue Charles de Gaulle F, NEUILLY – SUR – SEINE, F; đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam: Công ty TNHH T2, người địa diện theo pháp luật: Ông Lâm Thanh H3- chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Lầu F, Mê Linh P, số B N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn C, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người làm chứng: Chị Ngô Thị H, sinh năm 2001; nơi ĐKHKTT: Làng Groi, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 20/3/2024, tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh B phối hợp Cục Quản lý thị trường tỉnh B kiểm tra xe ô tô tải BKS 99C-240.75 do Nguyễn Văn Đ điều khiển đang đỗ tại Bến xe B thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện, tạm giữ: 20 chiếc ví mang nhãn hiệu LOUIS VUITTON, 04 túi xách mang nhãn hiệu CHANEL, 50 túi xách mang nhãn hiệu GUCCI; 100 túi xách không nhãn hiệu. Tổng số 174 sản phẩm hàng hóa (74 sản phẩm gắn nhãn hiệu và 100 sản phẩm không nhãn hiệu) nêu trên đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Đ khai nhận số hàng hóa trên là của Ngô Văn C, sinh năm 1993, HKTT: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (là anh rể Đ) nhờ Đ chở đến bến xe B. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ số hàng hóa trên cùng xe ô tô tải BKS 99C-240.75 để xác minh, làm rõ theo quy định.
Cùng ngày, Nguyễn Văn Đ cũng tự nguyện giao nộp toàn bộ số hàng hiện đang để tại kho sàn nhà Đ, gồm: 1470 chiếc túi xách mang nhãn hiệu CHANEL; 1398 chiếc ví mang nhãn hiệu CHANEL; 748 chiếc túi xách mang nhãn hiệu LOUIS VUITTON; 77 chiếc ví mang nhãn hiệu LOUIS VUITTON; 150 chiếc ví mang nhãn hiệu DIOR; 270 chiếc túi xách mang nhãn hiệu HERMES; 590 chiếc balo không nhãn hiệu.
Ngày 04/4/2024, Nguyễn Văn Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 15 chiếc túi xách và 06 chiếc balo không mang thương hiệu. Số hàng hóa Đ đã gửi đi cho khách thông qua app vận chuyển của Viettel P1 nhưng bị hoàn trả lại. Tổng số 4724 sản phẩm hàng hóa (4113 sản phẩm gắn nhãn hiệu, 611 sản phẩm không
nhãn hiệu) nêu trên đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, Đ khai nhận mua về để bán kiếm lợi nhuận.
Ngoài ra, Đ tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax lắp sim số 0342868655; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 lắp sim số 0375357896; số tiền 650.000 đồng.
Khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Đ tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu đồ vật gì.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 8/2023, Nguyễn Văn Đ sử dụng các nền tảng mạng xã hội Facebook, Zalo để kinh doanh, buôn bán các loại túi xách, ví, balo không có nhãn hiệu xuất xứ từ Trung Quốc, có giá thành rẻ. Đến đầu năm 2024, Đ thấy nhiều người có nhu cầu mua túi xách, ví có gắn nhãn mác của các thương hiệu nổi tiếng như LUOIS VUITTON, CHANEL, HERMES, DIOR nên Đ nảy sinh ý định kinh doanh, buôn bán các sản phẩm gắn mác các thương hiệu trên để kiếm lời. Bản thân Đ không được chủ sở hữu các thương hiệu cho phép kinh doanh buôn bán các sản phẩm có gắn nhãn mác của các thương hiệu này. Đông biết các thương hiệu trên đều là các thương hiệu nổi tiếng, bán với giá cao trong khi đối tượng khách hàng Đông hướng tới là những người công nhân, học sinh, sinh viên, người có thu nhập thấp. Do đó, Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax lắp sim số 0342868655 và điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 lắp sim số 0375357896, đăng nhập vào các ứng dụng Zalo, Facebook với các tên tài khoản “Bim bim”, “Gà con”, “Trai xom” để vào các hội nhóm mua bán túi xách, balo trên Z, Facebook và tìm kiếm nguồn hàng là các túi xách, ví không có nhãn hiệu và giả mạo các nhãn hiệu với giá rẻ. Khi thấy có tài khoản đăng hình ảnh bán túi xách, balo mà Đ cần mua thì Đ sẽ liên hệ và đặt hàng trực tiếp trên ứng dụng hoặc qua điện thoại. Sau khi trao đổi thống nhất về giá cả, số lượng, phương thức thanh toán, bên bán đóng hàng vào các bao tải dứa, thuê xe ô tô chuyển đến địa chỉ nhà Đ tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi nhận được hàng, Đ thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho lái xe đến giao hàng hoặc chuyển tiền qua tài khoản số 19035181320019 của Đ mở tại Ngân hàng T3 Chi nhánh Đ1, tỉnh Lạng Sơn. Toàn bộ số hàng hóa trên đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Hàng hóa nhập về, Đông cất trong kho tại nhà, mục đích để bảo quản và bán dần.
Sau khi mua được hàng hóa là túi xách, ví không có nhãn hiệu và giả mạo các nhãn hiệu, Đông đăng ảnh sản phẩm nên các hội, nhóm trên các nền tảng mạng xã hội Facebook, Z để giao bán. Nếu khách hàng mua túi xách, ví có gắn thương hiệu, Đ gửi hàng qua xe khách hoặc xe ôm đến địa chỉ của người mua. Nếu khách hàng mua túi xách, balo không gắn thương hiệu, Đ sử dụng ứng dụng Viettel Post mang tên Ngô Thị H, sinh năm 2001 (là vợ của Đ) để thuê đơn vị vận chuyển đến địa chỉ của người mua.
Nguyễn Văn Đ khai nhận đã mua tổng số 2588 chiếc túi xách giả mạo nhãn
hiệu với giá 200.000 đồng /01 chiếc = 517.000.000 đồng; 1675 chiếc ví giả mạo nhãn hiệu với giá 80.000 đồng/ 01 chiếc = 134.000.000 đồng. Đ đã bán được 100 chiếc túi xách với giá 250.000 đồng/01 chiếc = 25.000.000 đồng; 50 chiếc ví với giá 83.000 đồng/01 chiếc = 4.150.000 đồng. Như vậy, Đ hưởng lợi số tiền (100 x 50.000 đồng + 50 x 3.000 đồng) = 5.150.000 đồng.
Tổng số ba lô và túi xách không gắn thương hiệu, Đ đã mua về với số lượng lớn với nhiều kiểu dáng khác nhau. Đ không nhớ cụ thể số lượng đã mua, đã bán do không có sổ sách ghi chép. Khi bị lực lượng chức năng phát hiện, thu giữ còn 596 chiếc ba lô và 15 chiếc túi xách không gắn thương hiệu.
Hồi 11 giờ 30 phút, ngày 20/03/2024, khi Đ đang ở nhà thì Ngô Văn C sang nhờ Đ điều khiển xe ô tô BKS 99C-240.75 chở hàng từ nhà C ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đến Bến xe B để giao cho khách của C. Hồi 12 giờ cùng ngày tại Bến xe B, khi Đ đang chờ giao 20 chiếc ví mang nhãn hiệu LUOIS VUITTON, 04 túi xách mang nhãn hiệu CHANEL, 50 túi xách mang nhãn hiệu GUCCI; 100 túi xách không nhãn hiệu giúp C thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Đại diện theo uỷ quyền của chủ sở hữu các nhãn hiệu LOUIS VUITTON, CHANEL, DIOR, HERMES xác định: Nguyễn Văn Đ không được chủ sở hữu các nhãn hiệu ủy quyền hoặc cho phép sử dụng nhãn hiệu của Công ty tại Việt Nam. Các sản phẩm bị tạm giữ không phải do các Công ty sở hữu nhãn hiệu sản xuất và vì lý do bí mật kinh doanh nên các Công ty không thể cung cấp bản thiết kế cũng như các sản phẩm mẫu chính hãng tương ứng. Hành vi buôn bán túi xách, ví giả của Nguyễn Văn Đ gây thiệt hại đến uy tín của các nhãn hiệu.
Ngày 01/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ban hành Công văn số 1301 gửi Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ K và Công nghệ về việc xác định hàng hóa có dấu hiệu hàng giả, giả mạo nhãn hiệu.
Tại Công văn số 1529 ngày 23/05/2024 của Cục S - Bộ K và Công nghệ, xác định:
“Nhãn hiệu DIOR được bảo hộ theo đăng ký quốc tế số 313176 cho sản phẩm “Các sản phẩm làm từ da, túi xách,...” thuộc nhóm 18 của CHRISTIAN DIOR COUTURE, société anonyme;
Các nhãn hiệu “LOUIS VUITTON” được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 25889, “LV, hình” được bảo hộ theo các Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 25890, 25892 cho sản phẩm “Các sản phẩm làm từ da và giả da không thuộc các nhóm khác...” thuộc nhóm 18 của L3;
Nhãn hiệu HERMES được bảo hộ theo đăng ký quốc tế số 196756 cho sản phẩm hàng da, túi xách, ví...thuộc nhóm 18 của H4;
Nhãn hiệu CHANEL được bảo hộ theo đăng ký quốc tế số 1190042, nhãn hiệu “CC, hình” được bảo hộ theo đăng ký quốc tế số 1189929 cho sản phẩm ba
lô, túi xách, ví...thuộc nhóm 18 của CHANEL.
Kể từ thời điểm được bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép được độc quyền sử dụng các nhãn hiệu nêu trên trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Hành vi sử dụng dấu hiệu “DIOR”, “LOUIS VUITTON”, “LV, hình”, CHANEL, “CC, hình” gắn trên các sản phẩm túi xách, ví mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu các nhãn hiệu nêu trên hoặc người được chủ sở hữu các nhãn hiệu cho phép có thể sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ theo quy định tại khoản 1, Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ.
Các sản phẩm “túi xách, ví” gắn các dấu hiệu “DIOR”, “LOUIS VUITTON”, “LV, hình”, CHANEL, “CC, hình” mà không được sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ bị coi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu quy định tại khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ”.
Ngày 17/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ban Quyết định trưng cầu giám định số 968, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh B giám định đối với 4113 chiếc túi xách, ví mang các nhãn hiệu nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 1278 ngày 28/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận:
“Toàn bộ mẫu vật gửi giám định nêu trên là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu LOUIS VUITTON, CHANEL, HERMES, DIOR.
Không tiến hành giám định chất lượng của các mẫu vật giám định do không có bảng tiêu chuẩn chất lượng và mẫu so sánh”.
Trên cơ sở yêu cầu định giá của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B (PC03), tại Bản kết luận định giá tài sản số 09 ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh B, kết luận: “Giá của 4113 chiếc túi xách, ví giả mạo các nhãn hiệu LOUIS VUITTON, CHANEL, HERMES, DIOR là: 925.820.000 đồng”.
Tại Bản kết luận định giá số 21 ngày 14/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh B, kết luận: “Giá của 15 chiếc túi xách, 596 chiếc balo không có nhãn hiệu là: 34.730.000 đồng”.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax lắp sim số 0342868655, xác định: Tại ứng dụng Zalo đăng ký tên “Bim bim”, có một số tin nhắn và hình ảnh liên quan đến giao dịch bán hàng, Đ trình bày là tài khoản của Đ sử dụng để bán hàng.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 lắp sim số 0375357896, xác định: tại ứng dụng Facebook đăng ký tên “Gà con” và ứng dụng Zalo đăng ký tên “Trai xom”, có một số tin nhắn và hình ảnh liên quan đến giao dịch bán hàng, Đ trình bày là các tài khoản của Đ sử dụng để bán hàng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 149/CT-VKSBN-P1 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc như Cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.
Anh C trình bày: Ngày 20/3/2024, anh có nhờ Đ chở hàng đến Bến xe B để giao cho khách, toàn bộ số hàng trên xe là của anh, Đ không biết gì về số hàng trên.
Nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa trình bày:
Đối với chủ sở hữu nhãn hiệu Hermes International thông qua đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam là Công ty L1 Phạm và Cộng sự, đại diện của Công ty bà T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường về các thiệt hại sau: Thiệt hại về vật chất theo quy định của pháp luật đề nghị ấn định một khoản tiền bồi thường thiệt hại vật chất nhưng không quá năm trăm triệu đồng; bồi thường chi phí hợp lý để thuê luật sư số tiền 27.687.000 đồng; thiệt hại về mặt tinh thần số tiền 50.000.000 đồng.
Đối với chủ sở hữu LOUIS VUITTON thông qua đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam là Công ty L4.IP, đại diện của Công ty bà Y đề nghị xử lý bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật với mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Đối với chủ sở hữu nhãn hiệu DIOR thông qua đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam là Công ty L2, đại diện của Công ty bà H2 yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường thiệt hại vật chất theo giá trị hàng hóa thật tương ứng tổng số tiền là 3.450.000.000 đồng và thiệt hại tinh thần là 50.000.000 đồng.
Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ lời khai tại Cơ quan điều tra, chủ sở hữu nhãn hiệu CHANEL không có yêu cầu gì về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp"
* Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 3 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 24 đến 30
tháng. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất của Công ty D2 do công ty không đưa ra được tài liệu, chứng cứ về thiệt hại vật chất. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín, Viện kiểm sát đánh giá bị cáo có hành vi đăng bài trên mạng xã hội nên có ảnh hưởng đến uy tín của các thương hiệu, do đó căn cứ chấp nhận một phần về yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín của Công ty H4 và D1, đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho công ty H4, D1, mỗi công ty từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Buộc bị cáo phải trả Công ty H4 số tiền 27.687.000 đồng là chi phí thuê luật sư tham gia vụ án này.
Đối với các thương hiệu khác không có yêu cầu nên không xem xét.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính 5.150.000 đồng
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 88 thùng bìa catton và bao tải bên trong có tổng số 3.841 chiếc balo, túi sách, ví giả mạo thương hiệu, không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị tịch thu sung ngân sách những tài sản liên quan đến hành vi phạm tội, gồm: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 kèm 01 sim; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy IphoneXS max kèm 01 sim và số tiền 650.000 VNĐ.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Nguyên đơn dân sự giữ nguyên yêu cầu, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 16 giờ 51 phút ngày 20/3/2024 tại nhà riêng của Nguyễn Văn Đ ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B phát hiện, thu giữ của Đông 1398 chiếc ví giả mạo nhãn hiệu
CHANEL; 748 chiếc túi xách giả mạo nhãn hiệu LOUIS VUITTON; 77 chiếc ví giả mạo nhãn hiệu LOUIS VUITTON; 150 chiếc ví giả mạo nhãn hiệu DIOR; 270 chiếc túi xách giả mạo nhãn hiệu HERMES. Tổng giá trị của 4113 chiếc túi xách, ví giả mạo các nhãn hiệu nêu trên là 925.820.000 đồng. Số túi xách, ví giả mạo các nhãn hiệu nêu trên do Đ mua và cất giữ tại nhà, mục đích để bán kiếm lời. Đ đã bán được 150 chiếc túi xách, ví giả mạo nhãn hiệu, hưởng lợi 5.150.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán các hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu, sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu được bảo hộ tại Việt Nam. Do vậy, cần áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền bị cáo hưởng lợi bất chính nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/HĐTP thấy cần chiếu cố, khoan hồng cho bị cáo, áp dụng cho bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Đối với đề nghị của phía nhãn hàng LOUIS VUITTON MALLERTEIR xem xét xử lý nghiêm bị cáo với mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là không có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Đối với các Công ty CHANEL; Công ty L5 không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Công ty H4 thông qua đại diện là Công ty L1 và Cộng sự yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại về vật chất theo quy định của pháp luật đề nghị ấn định một khoản tiền bồi thường thiệt hại vật chất nhưng không quá năm trăm triệu đồng;
bồi thường chi phí hợp lý để thuê luật sư số tiền 27.687.000 đồng; thiệt hại về mặt tinh thần số tiền 50.000.000 đồng. Công ty D2 thông qua đại diện là Công ty Luật TNHH T&G yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường theo giá trị hàng hóa thật tương ứng tổng số tiền là 3.450.000.000 đồng và thiệt hại về mặt tinh thần số tiền 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy, các mặt hàng giả mạo nhãn hiệu bị cáo Đ đang tàng trữ, chưa bán ra thị trường, chưa đủ cơ sở để xác định giá trị thiệt hại thực tế. Phía các công ty DIOR cùng chưa đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho thiệt hại thực tế. Do đó không có căn cứ chấp nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự về vật chất.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín, xét thấy việc bị cáo mua số lượng hàng hóa lớn giả mạo nhãn hiệu, thực hiện hành vi quảng cáo, đăng bài trên mạng xã hội có phần làm ảnh hưởng đến uy tín của nhãn hiệu, do đó đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín của Công ty H4, DIOR cần chấp nhận một phần.
Đối với yêu cầu buộc bị cáo phải chi trả chi phí thuê luật sư của phía HERMES, xét thấy đối với chi phí thuê luật sư là hai bên tự nguyện thuê luật sư nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của HERMES nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này.
Về số tiền 5.150.000 đồng bị cáo khai được hưởng lợi từ hành vi bán các mặt hàng cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu tiêu hủy 88 thùng bìa catton và bao tải bên trong có tổng số 3.841 chiếc balo, túi sách, ví giả mạo thương hiệu, không còn giá trị sử dụng.
Cần tịch thu sung ngân sách những tài sản liên quan đến hành vi phạm tội, gồm: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 kèm 01 sim; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy IphoneXS max kèm 01 sim và số tiền 650.000 VNĐ
[8]. Về những nội dung liên quan khác trong vụ án.
- Đối với Ngô Văn C là người nhờ Đ điều khiển xe ô tô BKS 99C-240.75 chở hàng hóa giả mạo nhãn hiệu của C đi giao cho khách. Ngày 16/7/2024, C đã bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khởi tố về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” trong vụ án hình sự khác nên không xử lý trong vụ án này là phù hợp.
- Đối với hành vi Đông vận chuyển giúp C 20 chiếc ví mang nhãn hiệu LOUIS VUITTON, 04 túi xách mang nhãn hiệu CHANEL, 50 túi xách mang nhãn hiệu GUCCI, do giá trị hàng giả mạo nhãn hiệu nhỏ (dưới 200.000.000 đồng), chưa đủ cấu thành hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.
- Đối với chị Ngô Thị H (là vợ Đ), chị H biết Đ kinh doanh hàng hóa là túi xách, ví, ba lô nhưng không biết Đ kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, không được Đ bàn bạc, trao đổi nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
- Đối với những cá nhân bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu cho Đ thông qua mạng xã hội Facebook, Đ không biết họ tên, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể của
những người này nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
- Đối với hành vi kinh doanh 596 chiếc ba lô và 15 chiếc túi xách không mang nhãn hiệu, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Hành vi chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, đồng thời tách phần vật chứng này để xử lý theo Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ là đúng quy định là đúng quy định.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 3 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584; Điều 585; điều 592 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022 ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 30.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường cho Công ty H4 và Công ty D2, mỗi công ty 20.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải
chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc Nguyễn Văn Đ nộp lại 5.150.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước. (Xác nhận bị cáo đã nộp 4.500.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo Giấy nộp tiền ngày 29/10/2024 và 650.000 đồng tại Cơ quan điều tra đã được chuyển sang Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng số 19/2025)
3. Về xử lý vật chứng
Tịch thu tiêu hủy 88 thùng bìa catton và bao tải bên trong có tổng số 3.841 chiếc balo, túi sách, ví giả mạo thương hiệu, bên ngoài được gián giấy niêm phong có chữ ký của người tham gia và dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B kèm theo KLG Đ số 1278/KL- KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng KTHS – Công an tỉnh B và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 20/5/2024.
Tịch thu sung ngân sách: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 kèm 01 sim; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy IphoneXS max kèm 01 sim và số tiền 650.000 VNĐ (Sáu trăm năm mươi ngàn đồng) đã được chuyển vào tài khoản 3949.0.1054440.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh tại Kho bạc nhà nước B1 theo giấy nộp tiền ngày 28/10/2024.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 19/2025 ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B (PC 03) và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Trường |
11
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”
