Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 165/2024/HS-ST

Ngày 05-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Thành Phương và bà Tống Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Thu T-Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Phương Hoàng N, sinh năm 1987, tại tỉnh Long An. Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; nơi cư trú hiện nay: nhà số C, đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Khắc H và bà Trần Thị Bạch T1; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2020 ; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại “có mặt”.

*Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Phạm Thị D, sinh năm 1972. Nơi thường trú: nhà số C, đường K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số E, đường S, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

2. Chị Trần Ngọc Nhiên Đ, sinh năm 1980. Nơi thường trú: ấp S, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: nhà số E, đường S, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

3. Chị Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1986. Nơi thường trú: Khu phố B, phường M, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: nhà số A, đường K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

4. Chị Phan Ngọc H1, sinh năm 1991. Nơi thường trú: Tổ 6 T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: nhà số E, đường S, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

5. Anh Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1986. Nơi thường trú: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: nhà số B, đường H, khu phố C, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

6. Chị Huỳnh Thiên N1, sinh năm 1975. Nơi thường trú: nhà số B, đường B, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 574/15/42, đường S, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

7. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1987. Nơi thường trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: nhà số A, đường K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

8. Chị Nguyễn Thị Thanh S1, sinh năm 1971. Nơi thường trú: nhà số E, đường T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số D, đường L, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

9. Chị Trịnh Thị H2, sinh năm 1950. Nơi thường trú: nhà số F, đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số D, đường L, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;

10. Chị Trịnh Thị Mỹ N2, sinh năm 1973. Nơi thường trú: nhà số F, đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: nhà số C, đường B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 25 phút, ngày 12/6/2023, Công an phường B, quận B tuần tra đến trước 674/107, đường S, phường B, quận B thì nhìn thấy Phương Hoàng N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện trong điện thoại di động hiệu Nokia 210, màu đen, số thuê bao 0909096736 của N có chứa dữ liệu liên quan đến hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên mời N về trụ sở Công an phường B làm việc và lập hồ sơ ban đầu rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, N khai: Lúc Nam mở quán bán cà phê trên đường T 10 thì có rất nhiều khách đến đây uống cà phê rồi hỏi N có tiền cho họ vay không nên N mới nảy sinh ý định này nhằm lấy lãi để tăng thêm thu nhập và khi đó, N bắt đầu thực hiện hành vi cho vay từ ngày 01/01/2023. Lúc đầu, có ít người vay, lâu dần thì người này giới thiệu cho người khác biết đến vay và do thấy việc cho vay lấy lãi dễ sinh lời nên N mới duy trì cho đến ngày bị Công an phát hiện. Hình thức vay là người có nhu cầu vay đến gặp N để thỏa thuận miệng về số tiền vay cụ thể bao nhiêu, tổng số ngày trả tiền nợ gốc và lãi; trong đó, mỗi ngày phải trả bao nhiêu tiền nợ gốc và lãi. Sau khi 02 bên thỏa thuận xong, Nam giao tiền mặt cho người vay mà không phải làm giấy vay nợ hay nhận thế chấp bất kỳ giấy tờ gì của họ; mỗi ngày, N sẽ đến nhà người vay thu trả góp bằng tiền mặt cho cả nợ gốc và lãi như đã giao ước. N tự dùng tiền của N để cho vay, không có thuê mướn ai phụ giúp hay góp vốn hoạt động cho vay cùng với người khác. Do số người vay tiền của N không nhiều, số tiền vay nhỏ và quen biết nhau nên các bên tự ghi nhớ trong đầu, không cần sổ sách hay lưu giữ số điện thoại của những người vay vào danh bạ điện thoại của N. Theo đó, N đã cho 10 người vay tiền trên địa bàn quận B gồm:

1. Chị Phạm Thị D đã 11 lần vay tiền của N với mỗi lần là 3.000.000 đồng; trong đó, chị D đã trả xong nợ gốc và lãi cho N từ lần 1 đến lần 10, riêng lần 11 mới chỉ trả được 9 ngày, cụ thể như sau:

Lần 1: vào đầu tháng 01/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào giữa tháng 01/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 3: vào đầu tháng 02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 4: vào giữa tháng 02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 5: vào cuối tháng 02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 6: vào giữa tháng 03/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng đồng (600.000 đồng-39.452đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 7: vào cuối tháng 03/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 8: vào giữa tháng 04/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 9: vào cuối tháng 04/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần 10: vào giữa tháng 05/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị D vay là 25%/tháng;

Lần thứ 11: vào ngày 03/06/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Chị D đã trả xong 09 ngày, còn lại 15 ngày chưa trả và do, số tiền phải trả mỗi ngày cả gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, nợ gốc 125.000 đồng, tiền lãi 25.000 đồng) nên số tiền mới chỉ thu được là 1.350.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 225.000 đồng được trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 14.794 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 210.206 đồng, không thu phí hồ sơ; lãi suất cho vay là 25%/tháng; số nợ gốc chưa trả là 15 x 125.000 đồng = 1.875.000 đồng.

Như vậy, N cho chị D vay với mức lãi suất 25%/01 tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho chị D vay vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho chị D vay là 33.000.000 đồng; trong đó, do tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 409.315 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 5.815.685 đồng.

2. Trần Ngọc Nhiên Đ1 đã 11 lần vay tiền của N với mỗi lần là 3.000.000 đồng; trong đó, chị Đ1 đã trả xong nợ gốc và lãi cho N từ lần 1 đến lần 10, riêng lần 11 mới chỉ trả được 11 ngày, cụ thể như sau:

Lần 1: vào ngày 01/01/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.000 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào ngày 15/01/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 40.000 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 3: vào ngày 01/02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng.

Lần 4: vào ngày 15/02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng.

Lần 5: vào ngày 28/02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 6: vào ngày 15/03/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 7: vào ngày 30/03/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 8: vào ngày 15/04/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 9: vào ngày 30/04/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 10: vào ngày 15/05/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay là 25%/tháng;

Lần 11: vào ngày 30/5/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn đóng 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Chị Đ1 đã trả xong 11 ngày, còn lại 13 ngày chưa trả và do, số tiền phải trả mỗi ngày cả gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, nợ gốc 125.000 đồng, tiền lãi 25.000 đồng) nên số tiền mới chỉ thu được là 1.650.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 275.000 đồng được trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 18.082 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 256.918 đồng (không thu phí hồ sơ); lãi suất cho chị Đ1 vay là 25%/tháng; số tiền nợ gốc mà chị Đ1 còn phải trả là 13 ngày x 125.000 đồng = 1.625.000 đồng.

Như vậy, N cho chị Đ1 vay với mức lãi suất 25%/01 tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho chị Đ1 vay vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho chị Đ1 vay là 33.000.000 đồng; trong đó, do số tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 418.333 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 5.862.397 đồng.

3. Chị Lê Thị Ánh T2 đã 07 lần vay tiền của N với mỗi lần là 4.000.000 đồng; trong đó, chị T2 đã trả xong nợ gốc và lãi cho N từ lần 1 đến lần 6, riêng lần 7 mới chỉ trả được 13 ngày, cụ thể như sau:

Lần 1: vào ngày 01/03/2023, vay số tiền 4.000.0000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng =747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị T2 vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào ngày 15/03/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, số tiền lãi là 800.000 đồng/24 ngày trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị T2 vay là 25%/tháng;

Lần 3: vào ngày 01/04/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị T2 vay là 25%/tháng;

Lần 4: vào ngày 15/04/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị T2 vay là 25%/tháng;

Lần 5: vào ngày 28/04/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị T2 vay là 25%/tháng;

Lần 6: vào ngày 15/05/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị T2 vay là 25%/tháng;

Lần thứ 7: vào ngày 30/05/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Chị T2 đã trả xong 13 ngày, còn lại 11 ngày chưa trả và do, số tiền phải trả mỗi ngày cả gốc và lãi là 200.000 đồng (trong đó, tiền gốc 166.667 đồng, tiền lãi là 33.333 đồng) nên số tiền mới chỉ thu được là 2.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 433.329 đồng được trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 28.493 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 404.836 đồng, không thu phí hồ sơ; lãi suất cho chị T2 vay là 25%/tháng; số tiền nợ gốc mà chị T2 còn phải trả là 11 ngày x 166.667 đồng = 1.833.337 đồng.

Như vậy, N cho chị T2 vay với mức lãi suất 25%/01 tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho vay đối với T2 vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho chị T2 vay là 28.000.000 đồng; trong đó, do số tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 344.110 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 4.889.223 đồng.

4. Chị Phan Ngọc H1 đã 11 lần vay tiền của N với mỗi lần là 4.000.000 đồng; trong đó, chị H1 đã trả xong nợ gốc và lãi cho N từ lần 1 đến lần 10, riêng lần 11 mới chỉ trả được 11 ngày, cụ thể như sau:

Lần 1: vào ngày 01/01/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào ngày 15/01/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 3: vào ngày 01/02/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 4: vào ngày 15/02/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 5: vào ngày 28/02/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 6: vào ngày 15/03/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã đóng sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 7: vào ngày 30/03/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã đóng sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 8: vào ngày 15/04/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã đóng sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 9: vào ngày 30/04/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã đóng sau khi kết thúc dậy nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 10: vào ngày 15/05/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã đóng sau khi kết thúc dậy nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho chị H1 vay là 25%/tháng;

Lần 11: vào ngày 01/6/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Chị H1 đã trả được 11 ngày, còn lại 13 ngày chưa trả và do, số tiền phải trả góp mỗi ngày cả gốc lẫn lãi là 200.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc 166.667 đồng, tiền lãi là 33.333 đồng) nên số tiền mới chỉ thu được là 2.200.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 366.663 đồng được trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 24.110 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 342.553 đồng (không thu phí hồ sơ) với lãi suất cho vay là 25%/tháng. Số tiền nợ gốc mà chị H1 còn phải trả là 13 ngày x 166.667 đồng = 2.166.671 đồng.

Như vậy, N cho chị H1 vay với mức lãi suất 25%/01 tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho vay đối với chị H1 vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền mà N cho chị H1 vay là 44.000.000 đồng; trong đó, do số tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 550.137 đồng nên tổng số tiền N đã thu lợi bất chính là 7.816.530 đồng.

5. Anh Nguyễn Hoàng Y đã vay số tiền 3.000.000 đồng của N vào ngày 11/6/2023 với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc là 125.000 đồng, tiền lãi là 25.000 đồng). Nhưng do anh Y mới chỉ trả được 01 ngày là 150.000 đồng nên số tiền của 23 ngày còn lại chưa trả là 2.875.000 đồng (23 ngày x 125.000 đồng = 2.875.000 đồng). Như vậy, N cho anh Y vay với mức lãi suất 25%/tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho anh Y vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho anh Y vay là 3.000.000 đồng; do số tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1.644 đồng và không thu phí hồ sơ nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 23.356 đồng.

6. Chị Huỳnh Thiên N1 đã 02 lần vay tiền của N với lần 01 là 3.000.000 đồng và lần 02 là 10.000.000 đồng; trong đó, chị N1 đã trả xong nợ gốc và lãi cho Nam lần 1, riêng lần 2 mới chỉ trả được 09 ngày, cụ thể như sau:

Lần 1: vào đầu tháng 02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn trả 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho N1 vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào ngày 03/6/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng với thời hạn trả 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 500.000 đồng. Chị N1 đã trả được 09 ngày, còn lại 15 ngày chưa trả và do, số tiền đã trả góp mỗi ngày cả gốc và lãi là 500.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc 416.667 đồng, tiền lãi là 83.333 đồng) nên số tiền mới chỉ thu được là 4.500.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 750.000 đồng được trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 49.315 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 700.685 đồng (không thu phí hồ sơ) với lãi suất cho vay là 25%/tháng. Số tiền nợ gốc mà chị N1 còn phải trả là 6.250.000 đồng (15 ngày x 416.667 đồng = 6.250.000 đồng.

Như vậy, N đã cho chị N1 vay với mức lãi suất 25%/tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho chị N1 vay đã vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho chị N1 vay là 13.000.000 đồng; trong đó, do số tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 88.767 đồng nên tổng số tiền N đã thu lợi bất chính là 1.261.233 đồng.

7. Anh Nguyễn Văn S đã 03 lần vay tiền của N; trong đó, lần 1 là 2.000.000 đồng, riêng lần 2 và 3 với mỗi lần là 4.000.000 đồng; trong đó, anh S đã trả xong nợ gốc và lãi cho N lần 1 và 2, riêng lần 3 mới chỉ trả được 16 ngày, cụ thể như sau:

Lần 1: vào tháng 04/2023, vay số tiền 2.000.0000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 100.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 2.400.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 400.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 26.301 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 373.699 đồng (400.000 đồng-26.301 đồng = 373.699 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho S vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào tháng 05/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 4.800.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 800.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 52.603 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 747.397 đồng (800.000 đồng-52.603 đồng = 747.397 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N cho anh S vay là 25%/tháng;

Lần 3: vào ngày 27/5/2023, vay số tiền 4.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 200.000 đồng. Anh S đã trả được 16 ngày, còn lại 8 ngày chưa trả và do, số tiền đã trả góp mỗi ngày cả gốc và lãi là 200.000 đồng (trong đóng tiền gốc 166.667 đồng, tiền lãi là 33.333 đồng) nên số tiền mới chỉ thu được là 3.200.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 533.333 đồng được trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 35.068 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 498.265 đồng (không thu phí hồ sơ) với lãi suất cho vay là 25%/tháng; số tiền nợ gốc mà anh S chưa trả là 1.333.336 đồng (8 ngày x 166.667 đồng = 1.333.336 đồng).

Như vậy, N cho anh S vay với mức lãi suất 25%/tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho S vay đã vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho anh S vay là 10.000.000 đồng; trong đó, do tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 113.972 đồng nên tổng số tiền N đã thu lợi bất chính là 1.619.361 đồng.

8. Chị Nguyễn Thị Thanh S1 đã vay số tiền 3.000.000 đồng của N vào ngày 08/6/2023 với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc là 125.000 đồng, tiền lãi là 25.000 đồng). Nhưng do chị S1 mới chỉ trả được cả gốc và lãi 04 ngày với số tiền 600.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc là 500.000 đồng, tiền lãi là 100.000 đồng) nên số tiền nợ gốc còn lại chưa trả là 2.500.000 đồng (20 ngày x 125.000 đồng = 2.875.000 đồng). Như vậy, N đã cho chị S1 vay với mức lãi suất 25%/tháng, sau khi được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng; căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự, mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho chị S1 vay đã vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền mà N cho chị S1 vay là 3.000.000 đồng; trong đó, do tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự chỉ có 6.575 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 93.425 đồng.

9. Chị Trịnh Thị H2 đã vay số tiền 2.000.000 đồng của N vào ngày 05/6/2023 với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày phải trả góp cả tiền gốc và lãi là 100.000 đồng (trong đó tiền nợ gốc 83.333 đồng, tiền lãi là 16.667 đồng). Nhưng do chị H2 mới chỉ trả được cả gốc và lãi 07 ngày với số tiền 700.000 đồng (trong đó, tiền nợ gốc là 583.331 đồng, tiền lãi là 116.669 đồng) nên số tiền nợ gốc còn lại chưa trả là 1.416.661 đồng (17 ngày x 83.333 đồng = 1.416.661 đồng). Như vậy, N cho chị H2 vay với mức lãi suất 25%/tháng, sau khi được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng nên căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự, mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng, mức lãi suất mà N cho chị H2 vay vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng; tổng số tiền mà N cho chị H2 vay là 2.000.000 đồng; do tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự chỉ có 7.674 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 108.995 đồng.

10. Chị Trịnh Thị Mỹ N2 đã 06 lần vay tiền của N với mỗi lần 3.000.000 đồng và đã trả xong, cụ thể như sau:

Lần 1: vào đầu tháng 01/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N đã cho chị N2 vay là 25%/tháng;

Lần 2: vào đầu tháng 02/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N đã cho chị N2 vay là 25%/tháng;

Lần 3: vào đầu tháng 03/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N đã cho chị N2 vay là 25%/tháng;

Lần 4: vào đầu tháng 04/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-9.452 đồng = 560.548 đồng) không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N đã cho N2 vay là 25%/tháng;

Lần 5: vào giữa tháng 04/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N đã cho chị N2 vay là 25%/tháng;

Lần 6: vào đầu tháng 05/2023, vay số tiền 3.000.000 đồng với thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả góp cả tiền gốc và lãi là 150.000 đồng. Số tiền đã trả sau khi kết thúc nợ là 3.600.000 đồng; trong đó, do tiền lãi đã thu là 600.000 đồng/24 ngày được trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 39.452 đồng nên số tiền N đã thu lợi bất chính là 560.548 đồng (600.000 đồng-39.452 đồng = 560.548 đồng), không thu phí hồ sơ. Như vậy, mức lãi suất mà N đã cho chị N2 vay là 25%/tháng.

Như vậy, N cho chị N2 vay với mức lãi suất 25%/01 tháng, sau khi trừ đi lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,666%/tháng thì còn 23,334%/tháng; căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự thì mức lãi suất trên đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng nên mức lãi suất mà N cho chị N2 vay vượt đã quá 16,67%/tháng so với mức phải xử lý hình sự 8,33%/tháng. Tổng số tiền N cho chị N2 vay là 18.000.000 đồng; trong đó, do tiền lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 236.712 đồng nên tổng số tiền mà N đã thu lợi bất chính là 3.363.288 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, N đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Lời khai này hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh, chị Phạm Thị D, Trần Ngọc Nhiên Đ, Lê Thị Ánh T2, Phan Ngọc H1, Nguyễn Hoàng Y, Huỳnh Thiên N1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Thanh S1, Trịnh Thị H2 và Trịnh Thị Mỹ N2 cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, N đã cho vay với tổng số tiền là 187.000.000 đồng, do số tiền nợ gốc người vay mới chỉ trả được 165.124.990 đồng nên số còn lại chưa trả là 21.875.010 đồng; riêng tổng tiền lãi thực thu là 33.030.732 đồng nhưng do được trừ đi mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 2.177.239 đồng nên tổng số tiền mà N đã thu lợi bất chính là 30.853.493 đồng. Về vật chứng: tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Nokia 210, màu đen, sim số 0909096736 của N để chờ xử lý; còn về số tiền thu lợi bất chính của N thì các người có tên trên đều từ chối nhận lại; riêng đối với trường hợp người vay tiền chưa trả xong số tiền nợ gốc cho N, đều chấp nhận nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phương Hoàng N đã khai nhận: Do trong lúc mở quán bán cà phê trên đường T 10 thì có rất nhiều khách đến đây uống cà phê hỏi vay tiền trả lãi cao nên bị cáo mới nảy sinh ý định dùng tiền nhàn rỗi cho họ vay lấy lãi để có thêm thu nhập và đã thực hiện từ ngày 01/01/2023. Lúc đầu, tuy có ít người vay của bị cáo, nhưng lâu dần thì người này giới thiệu cho người khác biết nên về sau có nhiều đến vay và do thấy việc cho vay lấy lãi dễ sinh lời nên bị cáo mới duy trì cho đến ngày bị Công an phát hiện. Bị cáo cho vay tiền bằng cách: người nào muốn vay tiền thì phải đến gặp trực tiếp bị cáo để thỏa thuận miệng về số tiền vay, thời hạn trả tiền nợ gốc và lãi với mỗi ngày phải trả góp số tiền này là bao nhiêu. Sau khi 02 bên thỏa thuận xong, bị cáo giao tiền mặt cho người vay, không viết giấy nợ và cũng không nhận thế chấp gì của họ; mỗi ngày, bị cáo sẽ đến nhà người vay thu tiền trả góp bằng tiền mặt cho cả nợ gốc và lãi như đã giao ước; đồng thời, tiền mà bị cáo cho vay là tiền của chính bị cáo và không có thuê mướn ai phụ giúp. Theo đó, bị cáo đã cho 10 người vay tiền trên địa bàn quận B gồm: anh, chị Phạm Thị D, Trần Ngọc Nhiên Đ, Lê Thị Ánh T2, Phan Ngọc H1, Nguyễn Hoàng Y, Huỳnh Thiên N1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Thanh S1, Trịnh Thị H2 và Trịnh Thị Mỹ N2 với tổng số tiền đã cho vay là 187.000.000 đồng; trong đó, do tổng số tiền nợ gốc đã được người vay trả 165.124.990 đồng nên số tiền nợ gốc còn lại chưa trả là 21.875.010 đồng; riêng tổng tiền lãi thực thu là 33.030.732 đồng nhưng do được trừ đi mức lãi suất theo quy định là 2.177.239 đồng nên tổng số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 30.853.493 đồng thì bị Công an phát hiện. Do đó, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì việc giải quyết số tiền dùng để cho vay, tiền lãi thực tế đã thu của 10 người vay và 01 điện thoại di động hiệu Nokia còn bị tạm giữ.

Tại Cáo trạng số: 171/CT-VKS, ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phương Hoàng N ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: Bị cáo Phương Hoàng N đã có hành vi dùng tiền của mình cho 10 người vay gồm các anh, chị: Phạm Thị D, Trần Ngọc Nhiên Đ, Lê Thị Ánh T2, Phan Ngọc H1, Nguyễn Hoàng Y, Huỳnh Thiên N1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Thanh S1, Trịnh Thị H2 và Trịnh Thị Mỹ N2 với mức lãi suất 25%/tháng, đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 8,33%/tháng (5 lần x 1,666%/tháng = 8,33%) nên mức lãi suất mà bị cáo cho 10 người trên vượt quá 16,67%/tháng so với mức phải chịu trách nhiệm hình sự là 8,33%/tháng; đồng thời, tổng số tiền bị cáo đã dùng cho vay là 187.000.000 đồng; còn tiền lãi thực thu sau khi trừ đi lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là tiền thu lợi bất chính 30.853.493 đồng (riêng số lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự thực tế đã thu của người vay là 2.177.239 đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; đồng thời, phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Về các biện pháp tư pháp: đề nghị, buộc bị cáo cùng với các người có liên quan nộp lại tiền cho vay đã thu và tiền vay chưa trả là 187.000.000 đồng; riêng bị cáo còn phải nộp lại tổng số tiền lãi tính theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự đã thu là 2.077.239 đồng để sung quỹ Nhà nước. Còn số tiền lãi mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 30.853.493 đồng thì do các người vay đều không yêu cầu bị cáo trả lại nên không có ý kiến. Về vật chứng: đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 210.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Phương Hoàng N tại phiên tòa hôm nay cho thấy: trong thời gian từ ngày 01/01/2023 đến ngày 12/6/2023, bị cáo đã có hành vi dùng tổng số tiền 187.000.000 đồng của bị cáo để thực hiện hành vi giao dịch cho 10 người vay có kỳ hạn 24 ngày của 01 lần vay, người vay phải trả góp tiền nợ gốc và lãi mỗi ngày theo một mức cố định (tùy theo số tiền người vay) cho đến khi kết thúc nợ, cụ thể như sau: chị Phạm Thị D, đã 11 lần vay với tổng số tiền 33.000.000 đồng (mới chỉ trả được 31.125.000 đồng, còn lại chưa trả 1.875.000 đồng), do tiền lãi suất thực thu 6.225.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 409.315 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 5.815.685 đồng; chị Trần Ngọc Nhiên Đ, đã 11 lần vay với tổng số tiền 33.000.000 đồng (mới chỉ trả được 31.375.000 đồng, còn lại chưa trả 1.625.000 đồng), do tiền lãi suất thực thu 6.280.730 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 418.333 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 5.862.397 đồng; chị Lê Thị Ánh T2, đã 07 lần vay với tổng số tiền 28.000.000 đồng (mới chỉ trả được 26.166.663 đồng, còn lại chưa trả 1.833.337 đồng), do tiền lãi suất thực thu 5.233.333 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 344.110 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 4.889.223 đồng; chị Phan Ngọc H1, đã 11 lần vay với tổng số tiền 44.000.000 đồng (mới chỉ trả được 41.833.329 đồng, còn lại chưa trả 2.166.671 đồng), do tiền lãi suất thực thu 8.366.667 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 550.137 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 7.816.530 đồng; anh Nguyễn Hoàng Y, đã 01 lần vay với số tiền 3.000.000 đồng (mới chỉ trả được 125.000 đồng, còn lại chưa trả 2.875.000 đồng), do tiền lãi suất thực thu 25.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 1.644 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 23.356 đồng; chị Huỳnh Thiên N1, đã 02 lần vay với tổng số tiền 13.000.000 đồng (mới chỉ trả được 6.749.995 đồng, còn lại chưa trả 6.250.005 đồng), do tiền lãi suất thực thu 1.350.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 88.767 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 1.261.233 đồng; anh Nguyễn Văn S, đã 03 lần vay với tổng số tiền 10.000.000 đồng (mới chỉ trả được 8.666.664 đồng, còn lại chưa trả 1.333.336 đồng), do tiền lãi suất thực thu 1.733.333 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 113.972 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 1.619.361 đồng; chị Nguyễn Thị Thanh S1, đã 01 lần vay với số tiền 3.000.000 đồng (mới chỉ trả được 500.000 đồng, còn lại chưa trả 2.500.000 đồng), do tiền lãi suất thực thu 100.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 6.575 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 93.425 đồng; chị Trịnh Thị H2, đã 01 lần vay với số tiền 2.000.000 đồng (mới chỉ trả được 583.339 đồng, còn lại chưa trả 1.416.661 đồng), do tiền lãi suất thực thu 116.669 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 7.674 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 108.995 đồng; chị Trịnh Thị Mỹ N2, đã 06 lần vay với tổng số tiền 18.000.000 đồng (đã trả hết nợ), do tiền lãi suất thực thu 3.600.000 đồng được trừ mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 236.712 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 3.363.288 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo đã cho 10 người có tên trên vay là 187.000.000 đồng; trong đó, do số tiền nợ gốc người vay mới chỉ trả được 165.124.990 đồng nên số còn lại chưa trả là 21.875.010 đồng; riêng tổng tiền lãi thực thu là 33.030.732 đồng nhưng do được trừ đi mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự là 2.177.239 đồng nên số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính là 30.853.493 đồng.

[3] Xét như đã nêu trên thì bị cáo đã có hành vi cho 10 người vay tiền với mức lãi suất 25%/tháng là vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự (do mức lãi suất cao nhất không được vượt quá 20%/năm nên quy ra tháng là 1,666%) mà cụ thể là 8,33%/tháng (5 lần x 1,666%/tháng = 8,33%/tháng); trong khi bị cáo cho vay tiền với mức lãi suất sau khi trừ đi mức lãi suất này thì còn lại là 16,67%/tháng (25% - 8,33% = 16,67%) nên so với mức lãi suất 8,33%/tháng là “gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự”, tương ứng với số tiền đã “thu lợi bất chính” là 30.853.493 đồng (không có các khoản thu trái pháp luật khác). Do đó, bị cáo Phương Hoàng N đã phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản nhận dạng...cùng với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

[5] Xét hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về lĩnh vực tài chính tín dụng và ngân hàng M có thể là nguyên nhân dẫn đến các hành vi trái pháp luật khác. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thu lợi; riêng đối với trường hợp, tuy bị cáo đã có rất nhiều lần cho vay lãi nặng nhưng do số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần đều dưới mức 30.000.000 đồng nên bị cáo không phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 và mặc dù vậy, cũng phải cần xử bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do đó, xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo có điều kiện kinh tế và thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lợi cao nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt bị cáo một số tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.

[7] Xét, do bị cáo phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định “bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”; còn theo quy định tại khoản 3 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ “người bị kết án phải thực hiện hiện một số nghĩa vụ...và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước...” nên bị cáo có thể bị áp dụng khấu trừ một phần thu nhập. Nhưng do tại phần nhận định vừa nêu trên đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.

[8] Về các biện pháp tư pháp (“tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm”):

- Đối với số tiền 187.000.000 đồng mà bị cáo dùng để cho vay thì: tuy đây là công cụ phạm tội, nhưng do người vay mới trả cho bị cáo được 165.124.990 đồng, còn lại chưa trả là 21.875.010 đồng nên bị báo chỉ có nghĩa vụ nộp lại số tiền 165.124.990 đồng này để sung quỹ Nhà nước; riêng phần còn lại là số tiền 21.875.010 đồng, phải thuộc về nghĩa vụ của những vay tiền nộp lại để sung quỹ Nhà nước, cụ thể gồm các anh, chị: Phạm Thị D 1.875.000 đồng, Trần Ngọc N3 Đài 1.625.000 đồng, Lê Thị Ánh T2 1.833.337 đồng, Phan Ngọc H1 2.166.671 đồng, Nguyễn Hoàng Y 2.875.000 đồng, Huỳnh Thiên N1 6.250.005 đồng, Nguyễn Văn S 1.333.336 đồng, Nguyễn Thị Thanh S1 2.500.000 đồng và Trịnh Thị H2 1.416.661 đồng.

- Đối với số tiền 2.177.239 đồng là tiền lãi thực thu của bị cáo tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, do đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 30.853.493 đồng là tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính từ tiền lãi của các người vay đã trả, gồm anh, chị: Phạm Thị D 5.815.685 đồng, Trần Ngọc Nhiên Đ 5.862.397 đồng, Lê Thị Ánh T2, 4.889.223 đồng, Phan Ngọc H1 7.816.530 đồng, Nguyễn Hoàng Y 23.356 đồng, Huỳnh Thiên N1 1.261.233 đồng, Nguyễn Văn S 1.619.361 đồng, Nguyễn Thị Thanh S1 93.425 đồng, Trịnh Thị H2 108.995 đồng và Trịnh Thị Mỹ N2 3.363.288 đồng. Xét do các anh, chị đều tự nguyện không yêu cầu bị các hoàn trả lại số tiền này nên cần ghi nhận.

[9] Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 210, màu đen, gắn sim số 0909096736 của bị cáo, do có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.

[10] Bị cáo Phương Hoàng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:

- Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Phương Hoàng N 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Quyết định thi hành bản án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Phương Hoàng N cho Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Nếu trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Buộc bị cáo Phương Hoàng N phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập bị cáo.

- Phạt bổ sung bị cáo Phương Hoàng N số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

2. Về các biện pháp tư pháp (“tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm”): căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Buộc bị cáo Phương Hoàng N nộp lại tổng số tiền 167.302.229 (một trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm lẻ hai nghìn hai trăm hai mươi chín) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền chưa trả xong tiền nợ gốc cho bị cáo để sung quỹ Nhà nước, gồm các anh, chị: Phạm Thị D 1.875.000 (một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, Trần Ngọc Nhiên Đ 1.625.000 (một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng, Lê Thị Ánh T2 1.833.337 (một triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi bảy) đồng, Phan Ngọc H1 2.166.671 (hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi mốt) đồng, Nguyễn Hoàng Y 2.875.000 (hai triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, Huỳnh Thiên N1 6.250.005 (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn không trăm lẻ năm) đồng, Nguyễn Văn S 1.333.336 (một triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi sáu) đồng, Nguyễn Thị Thanh S1 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng và Trịnh Thị H2 1.416.661 (một triệu bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi mốt) đồng.

Ghi nhận những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các anh, chị: Phạm Thị D, Trần Ngọc Nhiên Đ, Lê Thị Ánh T2, Phan Ngọc H1, Nguyễn Hoàng Y, Huỳnh Thiên N1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Thanh S1, Trịnh Thị H2 và Trịnh Thị Mỹ N2 đều tự nguyện không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền thu lợi bất chính.

3. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 210, màu đen, gắn sim số 0909096736.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK23/258TAM, ngày 06/9/2023)

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phương Hoàng N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Bị cáo Phương Hoàng N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh, chị Phạm Thị D, Trần Ngọc Nhiên Đ, Lê Thị Ánh T2, Phan Ngọc H1, Nguyễn Hoàng Y, Huỳnh Thiên N1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Thanh S1, Trịnh Thị H2 và Trịnh Thị Mỹ N2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 165/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phương Hoàng N “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger