TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 165/2024/HS-PT Ngày: 18 - 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Công Hoàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Đức |
| Bà Nguyễn Thị Bích Thảo |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 162/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 12 tháng 07 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Thị H, sinh năm: 1972 tại: Hải Dương. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Tổ dân phố B' Nơr B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T và bà Vũ Thị C (Cả hai đều đã chết); chồng, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 27/QĐ-XPHC ngày 29-3-2024, bị Công an huyện L xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có người liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đây, giữa ông Hoàng Văn T1 và ông Phạm Văn T2 đã phát sinh tranh chấp đất đai; sáng ngày 19-12-2023, tại vị trí nhà của 02 ông (Hai nhà liền kề nhau), ở Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là ông T1 cho công nhân đóng tôn trên tường nhà của ông T1 để chống thấm; khi thi công thì nhóm thợ đã làm giàn giáo trên không, thuộc phần đất nhà ông T2; ông T2 không đồng ý cho mượn khoảng không thuộc phần đất sử dụng của gia đình mình nên đã dùng vữa khô ném công nhân đang làm cho nhà ông T1; còn Phạm Thị H – là chị gái ông T2 thì chửi bới những công nhân đang làm. Thấy vậy, ông T1 đến Công an thị trấn L trình báo sự việc. Nhận được tin báo, Thượng úy Nguyễn Minh T3 đã báo cáo Thiếu tá Đỗ Mạnh T4 - Trưởng Công an thị trấn L. Sau đó, ông Đỗ Mạnh T4 là cán bộ trực chỉ huy, cùng ông Nguyễn Minh T3 - cán bộ trực ban mặc trang phục Công an nhân dân và sử dụng xe ô tô chuyên dụng biển kiểm soát 49A-007.06 của Công an thị trấn L đến hiện trường để giải quyết vụ việc.
Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Công an thị trấn L đến giải quyết thì thấy Phạm Thị H đang có hành vi chửi ông T1, còn ông T2 tiếp tục dùng cục vữa khô ném vào các công nhân đang thi công trên giàn giáo. Thiếu tá Đỗ Mạnh T4 và Thượng úy Nguyễn Minh T3 yêu cầu bà H chấm dứt hành vi chửi ông T1 và yêu cầu ông T2 chấm dứt hành vi ném vữa khô vào người khác nhưng ông T2 và H1 đều không chấp hành; H còn chửi cả cán bộ Công an. Nhận thấy hành vi của ông T2 gây nguy hiểm cho các công nhân đang ở trên cao nên Thiếu tá Đỗ Mạnh T4 đã khống chế ông T2 và cùng Thượng úy Nguyễn Minh T3 đưa ông T2 về trụ sở Công an thị trấn để làm việc theo quy định.
Ngay lúc đó, Phạm Thị H chạy tới chửi Thiếu tá Đỗ Mạnh T4, Thượng úy Nguyễn Minh T3 và dùng tay nắm, kéo mạnh cổ áo của Thiếu tá Đỗ Mạnh T4 và kéo ông T4 vào phía trong sân nhà T2. Thượng úy Nguyễn Minh T3 đến hỗ trợ Thiếu tá Đỗ Mạnh T4, yêu cầu bà H chấm dứt hành vi nắm, kéo áo đối với ông T4 nhưng H không chấp hành mà tiếp tục chửi, nắm cổ áo và kéo ông T4 vào phía trong nhằm mục đích không cho ông T4 và ông T3 đưa ông T2 về trụ sở Công an thị trấn. Do đối tượng là phụ nữ nên Thiếu tá Đỗ Mạnh T4 và Thượng úy Nguyễn Minh T3 không có hành vi phản kháng lại bà H mà báo về Công an thị trấn để tăng cường lực lượng hỗ trợ. Khi lực lượng Công an thị trấn đến hiện trường, dùng biện pháp nghiệp vụ để chấm dứt hành vi của bà H và đưa H về trụ sở Công an thị trấn để làm việc theo quy định. Tại trụ sở C, trong quá trình làm việc với lực lượng Công an, bà H tiếp tục có lời lẽ xúc phạm, danh dự, nhân phẩm của lực lượng Công an, chống đối, không hợp tác để làm việc.
Ông Đỗ Mạnh T4, ông Nguyễn Minh T3 là cán bộ Công an thị trấn L, huyện L theo Quyết định điều động số 1122/QĐ-CAT-PX01 ngày 29-12-2022 của Công an tỉnh L và Quyết định số: 08/QĐ-CALD ngày 04-04-2019 của Công an huyện L; ông T4 và ông T3 đang thực hiện nhiệm vụ của Công an thị trấn theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện L đã tạm giữ: 01 đĩa DVD ghi hình nội dung sự việc do ông Nguyễn Minh T3 cung cấp; 01 (Một) áo Cảnh sát nhân dân bị mất 01 (Một) cúc áo thứ hai từ trên xuống - là chiếc áo ông T4 mặc trong khi bị bà H dùng tay nắm, lôi kéo làm đứt cúc áo; 01 cúc kim loại màu vàng thu giữ tại hiện trường là cúc của chiếc áo ông T4 mặc bị bà H tác động làm đứt; 01 (Một) quần Cảnh sát nhân dân bị mất 01 (Một) cúc cài túi quần phía sau là chiếc quần ông T3 mặc khi khống chế ông T2; 01 (Một) cúc nhựa màu xanh thu giữ tại hiện trường là cúc cài túi sau của chiếc quần ông T3 mặc khi khống chế ông T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện L đã trả lại 01 quần, 01 áo, 01 cúc kim loại, 01 cúc nhựa cho ông T4 và ông T3 theo quy định.
Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19 tháng 12 năm 2023 đã xác định vị trí Phạm Thị H thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ xảy ra trên phần đất của nhà của ông Phạm Văn T2, tại Tổ dân phố B Nơr B, thuộc đường A, thị trấn L, tỉnh Lâm Đồng.
Vật chứng của vụ án là: 01 chiếc cúc áo màu vàng, chất liệu kim loại (Cúc gắn trên áo Cảnh sát nhân dân của ông Đỗ Mạnh T4) và 01 chiếc cúc nhựa màu xanh (Cúc gắn trên túi quần phía sau – quần cảnh sát nhân dân của ông Nguyễn Minh T5). Cơ quan Điều tra đã trả lại cho ông T4 và ông T5.
Tại bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSLD ngày 26 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương đã truy tố bị cáo Phạm Thị H về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 12-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương đã:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị H phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16-7-2024 bị cáo Phạm Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tài liệu, chứng cứ kèm đơn kháng cáo; đến thời điểm báo án: Không.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài việc giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì bị cáo Phạm Thị H bổ sung thêm kháng cáo cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội xử phạt bị cáo hình phạt tù với mức án 12 tháng là phù hợp, tương xứng. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết mới nên không có cơ sở xem xét kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tục kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai và thừa nhận diễn biến hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai người liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng khác trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ trong vụ án nên đủ cơ sở kết luận:
Ngày 19-12-2023 khi cán bộ Công an thị trấn L là Thiếu tá Đỗ Mạnh T4 và Thượng úy Nguyễn Minh T3 đến ngăn cản Phạm Văn T2 (Em trai bị cáo), không cho ném cục vữa khô vào công nhân đang xây dựng nhà cho ông Hoàng Xuân T6 (Kế bên nhà ông T2), ngay lúc đó bị cáo Phạm Thị H chạy tới chửi ông T4, ông T3 và dùng tay nắm, kéo cổ áo của ông T4, lôi ông T4 vào phía trong sân nhà T2. Khi ông T3 đến hỗ trợ ông T4, yêu cầu bị cáo H chấm dứt hành vi nắm, kéo áo đối với ông T4 nhưng bị cáo không chấp hành mà tiếp tục chửi, nắm cổ áo và kéo ông T4 vào phía trong nhằm mục đích không cho ông T4 và ông T3 đưa ông T2 về trụ sở Công an thị trấn. Công an thị trấn L đã cử thêm lực lượng hỗ trợ và đưa bị cáo về Công an thị trấn để làm việc. Tại trụ sở C1 Công an, bị cáo tiếp tục có lời lẽ xúc phạm, danh dự, nhân phẩm của lực lượng Công an, chống đối, không hợp tác làm việc.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lăng mạ, chửi bới, cản trở hoạt động của người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của nhà nước, gây mất an ninh trật tự, trị an nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện các hành vi như đã nêu. Do đó, cấp sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.
[4] Về hình phạt và kháng cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ, đúng quy định. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến khách thể là sự hoạt động bình thường của cán bộ nhà nước khi làm nhiệm vụ, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo tuyên phạt bị cáo 1 (Mười hai) tháng tù là nghiêm; bảo đảm kỷ cương, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo nhưng không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng sẽ tạo tiền lệ xấu, ảnh hưởng đến dư luận. Trong khi đó cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và mức phạt tù áp dụng đối với bị cáo là phù hợp như đã phân tích. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Về tội phạm và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 165/2024/HS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 165/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
