Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HC-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực quản

lý đất đai

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trịnh, ông Trương Vĩnh Kỳ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Võ Thị Phương Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 21/2023/TLST-HC ngày 01/02/2023, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 19 1/2024/QĐXXST-HC ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Trần Văn H, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện H.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn P, chức vụ: Phó Chủ tịch (văn bản uỷ quyền ngày 12/4/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đăng H1, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H và bà Đặng Thị Hoàng Y, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H.
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông Trần Văn H, ông Nguyễn Đăng H1, bà Nguyễn Thị T, những người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Trần Văn H trình bày:

Gia đình ông có thửa đất số 19, tờ bản đồ số 81 với diện tích 618,2m², mục đích sử dụng là đất ở đô thị và đất trồng cây hằng năm khác, địa chỉ thửa đất tại khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Nguồn gốc đất do gia đình ông mua của vợ chồng ông Võ Văn Y1, bà Lê Thị X và sử dụng ngày 13/04/1996, được cấp giấy phép xây dựng ngày 04/05/1996, đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước đầy đủ với diện tích đất ở là 300m² từ đó đến năm 2019.

Ngày 26/3/2018, UBND huyện H ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND thu hồi thửa đất nêu trên của gia đình ông để thực hiện dự án công trình công viên trung tâm huyện H. Ngày 03/4/2018, Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 426/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường với số tiền 645.024.136 đồng và ngày 27/11/2018 ban hành Quyết định số 1875/QĐ-UBND phê duyệt bồi thường bổ sung với số tiền là 124.620.790 đồng. Gia đình ông không đồng ý với việc áp giá đền bù và yêu cầu giao đất tái định cư nên có đơn khiếu nại. Ngày 05/6/2021, Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 06/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của vợ chồng ông.

Gia đình ông chưa nhận tiền bồi thường nhưng ngày 25/10/2021, Chủ tịch UBND huyện H đã ban hành Quyết định số 1849/QĐ-UBND cưỡng chế thu hối đất đối với gia đình ông. Ngày 05/11/2021, ông ký biên bản giao nhận quyết định cưỡng chế thu hồi đất (bên dưới văn bản ông ký và ghi rất rõ Quyết định 1849 ông nhận nhưng không thống nhất việc cưỡng chế trong lúc này do dịch bệnh Covid 19, ông không có chỗ ở nào khác) thế nhưng vào sáng ngày 12/11/2021, UBND huyện H vẫn tổ chức cưỡng chế.

Ông Trần Văn H cho rằng việc áp giá bồi thường là quá thấp, không phù hợp với giá thị trường, không cấp đất tái định cư cho ông trong khi địa phương còn quỹ đất. Ông khởi kiện, yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định sau:

  • - Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 26/3/2018 của UBND huyện H về việc thu hồi đất để hực hiện dự án công trình công viên trung tâm huyện H.
  • - Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 của Chủ tịch UBND huyện H về việc phê duyệt phương án bồi thường
  • - Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 25/10/2021 của Chủ tịch UBND huyện H về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Người bị kiện có ý kiến tại Văn bản số 861/UBND-TNMT ngày 19/4/2023 như sau:

Về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn H:

Ngày 28/10/2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B có Quyết định số 397/QĐ-SKHĐT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình C huyện H.

Ngày 10/5/2017, UBND huyện có Thông báo thu hồi đất số 63/TB-UBND để thực hiện Công trình: C huyện H. Theo đó: thông báo thu hồi đất của hộ ông Trần Văn H, diện tích dự kiến thu hồi 618,2 m² thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số

81 tại thị trấn T (được Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B xác lập ngày 10/8/2013), loại đất đang sử dụng: ODT + BHK.

Ngày 19/7/2017, UBND tỉnh B có Quyết định số 2046/QĐ-UBND về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để thực hiện công tác bồi thường công trình C huyện H. Ngày 02/11/2017, ông Trần Văn H có Tờ khai đất đai, tài sản nằm trong khu vực bị thu hồi đất. Cùng ngày 02/11/2017, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện phối hợp với Chủ đầu tư, UBND thị trấn T lập biên bản đo đạc, kiểm kê tài sản của người bị thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất của hộ ông Trần Văn H.

Ngày 27/11/2017, UBND thị trấn T có Giấy xác nhận nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất số 34/GXN. Theo đó: diện tích đất thu hồi 618,2m² có nguồn gốc do nhận sang nhượng năm 1996 từ ông Nguyễn Văn Y2. Đến năm 1996 ông H xây dựng nhà ở cho đến nay. Là hộ không trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Hộ còn nhà ở tại đường vào hồ T, đất ở tại khu dân cư trung tâm huyện.

Ngày 28/11/2017, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện họp thống nhất đối với trường hợp hộ ông Trần Văn H: Thống nhất đủ điều kiện bồi thường 200 m² đất ở đô thị (có thu tiền sử dụng đất) và 418,2 m² đất trồng cây hàng năm. Hoa màu, cây trái tính tỷ lệ 100%, riêng cây lim (12 năm) tính 80%; nhà cửa, vật kiến trúc xây dựng năm 1996, tính tỷ lệ 100% áp dụng đơn giá tại Quyết định số 14/2017/QĐ-UBND ngày 04/5/2017 của UBND tỉnh B. Ngoài việc bồi thường còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm (2,5 lần) theo Điều 24 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B đối với 02 khẩu học sinh, sinh viên được tính mức hỗ trợ 50%. Chi phí di chuyển tài sản theo điểm a khoản 2 Điều 38 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B.

Ngày 01/3/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện lập Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn H với tổng số tiền 645.024.136 đồng (gồm: bồi thường về đất là 235.510.196 đồng; bồi thường tài sản 380.311.190 đồng; bồi thường hoa màu, cây trái là 1.952.000 đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm “2 khẩu là học sinh, sinh viên” là 17.250.750 đồng; hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản 10.000.000 đồng).

Cùng ngày 01/3/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện L bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn H. Ngày 26/3/2018, UBND huyện có Quyết định số 16/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Công trình Công viên Trung tâm huyện H đối với hộ ông Trần Văn H, diện tích 618,2 m², loại đất: ODT + BHK thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 81 tại thị trấn T. Cùng ngày 26/3/2018, Chủ tịch UBND huyện có Quyết định số 389/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Công trình Công viên Trung tâm huyện H đối với 03 hộ (trong đó, có hộ ông Trần Văn H với tổng số tiền 645.024.136 đồng).

Ngày 03/4/2018, Chủ tịch UBND huyện có Quyết định số 426/QĐ- UBND về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn H với tổng số tiền 645.024.136 đồng.

Ngày 18/9/2018, UBND thị trấn T có Giấy xác nhận nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất số 165/GXN. Theo đó: diện tích đất thu hồi 618,2 m² có nguồn gốc do nhận sang nhượng năm 1996 từ ông Nguyễn Văn Y2 (có Quyết định số

466/QĐ.UB.HTN ngày 13/4/1996 của UBND huyện về việc cho phép ông Vũ Văn Y3 và vợ là bà Lê Thị X chuyển nhượng diện tích 162 m² đất thổ cư cho bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Trần Văn H). Đến năm 1996 ông H xây dựng nhà ở cho đến nay. Là hộ không trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Hộ còn nhà ở tại đường vào hồ T, đất ở tại khu dân cư trung tâm huyện.

Ngày 18/9/2018, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện họp thống nhất đối với trường hợp hộ ông Trần Văn H. Theo đó: thống nhất đủ điều kiện bồi thường diện tích 618,2 m² có 162 m² đất ở đô thị và 456,2 m² đất trồng cây hàng năm; hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại tiết g.2 điểm g khoản 3 Điều 29 Điều 24 Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; quy trình thu hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quy trình chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (Ban hành kèm theo Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02 tháng 3 năm 2015 của UBND tỉnh B), được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 25/01/2018 của UBND tỉnh B.

Ngày 17/10/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện lập Bảng tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung đối với hộ ông Trần Văn H với tổng số tiền 124.620.790 đồng: bổ sung bồi thường về đất với số tiền 119.289.640 đồng và bổ sung hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền 5.331.150 đồng. Cùng ngày 17/10/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất lập Phương án bồ sung bồi thường đất và khoản hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn H với tổng số tiền 124.620.790 đồng. Ngày 19/11/2018, Chủ tịch UBND huyện có Quyết định số 1844/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Công trình Công viên Trung tâm huyện H (gồm 01 hộ bổ sung – hộ ông Trần Văn H). Ngày 27/11/2018, Chủ tịch UBND huyện có Quyết định số 1875/QĐ- UBND về việc phê duyệt bồi thường (bổ sung) đối với hộ ông Trần Văn H với tổng số tiền 124.620.790 đồng.

Quá trình được UBND thị trấn T, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện giao các Quyết định thu hồi đất, Quyết định bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất thì hộ ông Trần Văn H không đồng ý nhận các Quyết định.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai của Chính phủ; Bộ T2; căn cứ Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND, ngày 02 tháng 3 năm 2015 của UBND tỉnh B về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; quy định thu hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quy trình Chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 25/01/2018 của UBND tỉnh B) thì UBND huyện đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục khi thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Văn H; hộ ông H đã được UBND huyện quyết định bồi thường, hỗ trợ đầy đủ theo quy định khi bị thu hồi đất.

Về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất:

Ngày 20/9/2021, UBND thị trấn T có Báo cáo số 93/UBND, báo cáo kết quả làm việc, tuyên truyền, vận động hộ ông Trần H chấp hành các Quyết định thu hồi đất, nhận tiền bồi thường và giao đất để thực hiện dự án Công viên Trung tâm

huyện. Tuy nhiên, hộ ông H không đồng ý. Ngày 22/10/2021, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện có Công văn số 850/PTQĐ về việc đề nghị cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn H thực hiện Công trình C huyện H. Ngày 25/10/2021, Phòng T3 huyện có Tờ trình số 1225/TTr-TNMT, trình Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn H.

Ngày 25/10/2021, Chủ tịch UBND huyện có Quyết định số 1849/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn H. Căn cứ khoản 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 thì việc Chủ tịch UBND huyện quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn H là đúng quy định pháp luật.

UBND huyện H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Thống nhất như trình bày của ông Trần Văn H, không bổ sung gì thêm.

Tại phiên tòa:

-Ý kiến của ông Trần Văn H:

  • + Rút yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định thu hồi đất số 16/QĐ-UBND ngày 26/3/2018 và Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 25/10/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất.
  • + Yêu cầu Tòa án hủy quyết định Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường và Quyết định số 1875/QĐ-UBND ngày 27/11/2018 về phê duyệt bồi thường bổ sung; yêu cầu UBND huyện H phải đền bù thỏa đáng theo giá thị trường; UBND huyện H chỉ bồi thường 162m² đất thổ cư là không đúng mà phải bồi thường theo hạn mức đất ở là 300m², vì gia đình ông đóng thuế với diện tích đất ở là 300m²; yêu cầu UBND huyện H phải cấp đất tái định cư cho gia đình ông vì hiện nay địa phương còn quỹ đất và gia đình ông không có chỗ ở nào khác, thửa đất số 30 diện tích 140 m² ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông đứng tên giùm em ông là bà Nguyễn Thị T1, đến nay ông đã sang tên cho bà T1; năm 2000, gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nông nghiệp nhưng đến ngày 28/4/2000, UBND huyện H đã có quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.

- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Việc áp giá bồi thường đối với ông H là đúng quy định của pháp luật. Việc xác định diện tích đất thổ cư để bồi thường cho ông H là căn cứ vào Quyết định số 466/QĐ.UB.HTN ngày 13/4/1996 của UBND huyện H cho phép ông Vũ Văn Y3 và bà Lê Thị X được phép chuyển nhượng 162m² đất thổ cư cho ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị T (thị trấn T trước đây thuộc xã T, hạn mức đất ở tại nông thôn là 300m², do ông Y, bà X đã có nhà ở chỗ khác nên chỉ cho phép ông Y, bà X chuyển nhượng 162m² đất thổ cư cho vợ chồng ông H). UBND huyện H không giao đất tái định cư cho ông H là đúng quy định vì địa phương không có quỹ đất và ngoài diện tích đất bị thu hồi, tại thị trấn T, ông H còn có nhà và đất ở khác.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi

thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/04/2018 và Quyết định 1875/QĐ-UBND ngày 17/11/2018 là không đúng thẩm quyền. Theo điểm a khoản 2 Điều 66, điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai 2013, UBND huyện H có thẩm quyền ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nên người bị kiện phải xác định là UBND huyện H.

Việc áp giá bồi thường, xác định diện tích đất ở để bồi thường được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Vào thời điểm UBND huyện H ban hành quyết định thu hồi đất, thì ngoài thửa đất bị thu hồi, gia đình ông H còn sử dụng thửa đất ở số 30, diện tích 140m², sau khi UBND huyện H thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường thì ông H mới tặng cho bà Nguyễn Thị T1. Do vậy, UBND huyện H không giao đất tái định cư cho ông H là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ủy ban nhân dân huyện H và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng này.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 25/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 26/3/2018 của Ủy ban nhân dân huyện H và Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H. Xét thấy, các quyết định hành chính trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, Ủy ban nhân dân huyện H có nội dung điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính nên quan hệ pháp luật được xác định là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30, các khoản 3, 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

[3] Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 25/10/2021 Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 1840/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với thửa đất số 19 tờ bản đồ số 81 diện tích 618,2m² của hộ ông Trần Văn H. Không đồng ý với quyết định này, ngày 27/9/2022, ông Trần Văn H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Phạm vi khởi kiện và quyết định hành chính có liên quan.

Tại phiên tòa, ông Hòa đồng Ý với chủ trương thu hồi đất để xây dựng công viên, ông rút yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định thu hồi đất số 16/QĐ-UBND ngày 26/3/2018 và Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 25/10/2021 về việc cưỡng chế thu hồi đất. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu hủy 02 quyết định này.

Trong đơn khởi kiện cũng như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông H không yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1875/QĐ-UBND ngày 27/11/2018 về việc phê duyệt bồi thường bổ sung. Tại phiên tòa, ông H mới yêu cầu hủy quyết định này. Xét thấy, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường bổ sung số 1875/QĐ-UBND là quyết định hành chính có liên quan đến Quyết định phê duyệt phương án bồi thường số 426/QĐ-UBND ngày 03/4/2018, nên ông H không yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1875/QĐ-UBND thì Tòa án vẫn xem xét tính pháp lý của quyết định này. Do vậy, tại phiên tòa, ông H yêu cầu hủy Quyết định số 1875/QĐ-UBND được Hồi đồng xét xử xem xét giải quyết.

Ông Trần Văn H yêu cầu UBND huyện H cấp đất tái định cư cho ông. Trong các Quyết định số 426/QĐ-UBND và Quyết định số 1875/QĐ-UBND về bồi thường và bồi thường bổ sung, không có nội dung cấp đất tái định cư hay không cấp đất tái định cư. UBND huyện H không đồng ý cấp đất tái định cư cho ông H thể hiện tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của Chủ tịch UBND huyện H. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định Quyết định số 06/QĐ-UBND là quyết định hành chính có liên quan.

[5] Về tư cách người tham gia tố tụng: Xét thấy, cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là Ủy ban nhân dân huyện H. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện H. Chủ tịch UBND huyện H kí ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 nên Chủ tịch UBND được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[6] Xét tính pháp lý Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 và Quyết định số 1875/QĐ-UBND ngày 27/11/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường.

[6.1] Về giá đất bồi thường:

Ngày 26/3/2018, Ủy ban nhân dân huyện H ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ông Trần Văn H để xây dựng công trình C huyện H. Theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013, thì công trình C huyện H thuộc trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định giá đất bồi thường theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

Tại thời điểm thu hồi đất, bảng giá đất do UBND tỉnh B quy định được thực hiện theo Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 và hệ số điều chỉnh giá đất thực hiện theo Quyết định số 2046/QĐ-UBND ngày 19/7/2017 của UBND

tỉnh B về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để thực hiện công tác bồi thường công trình C huyện H.

Xét thấy, việc áp giá bồi thường về đất đã được thực hiện theo đúng các quy định nêu trên. Ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu bồi thường theo giá thị trường là không có căn cứ.

Đối với việc bồi thường tài sản trên đất và các khoản hỗ trợ khác, UBND huyện H đã thực hiện theo đúng Quyết định số 14/2017/QĐ-UBND ngày 04/5/2017 và Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B.

[6.2] Về việc xác định diện tích đất ở được bồi thường:

Khoản 3 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

Ngày 13/4/1996, UBND huyện H có Quyết định số 466/QĐ.UB.HTN cho phép ông Vũ Văn Y3 và vợ là bà Lê Thị X chuyển nhượng diện tích 162 m² đất thổ cư cho bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Trần Văn H. Ông H xây dựng nhà ở từ năm 1996 cho đến khi bị thu hồi đất. Do vậy, UBND huyện H xác định trong tổng diện tích đất bị thu hồi của ông H, có 162m² đất ở là đúng quy định của pháp luật. Ông H yêu cầu bồi thường đất ở với diện tích 300m² là không có căn cứ.

Quyết định số 426/QĐ-UBND xác định ông H có 200m² đất ở và chỉ được bồi thường 50% (truy thu nghĩa vụ tài chính 50%) là không đúng quy định của pháp luật, không phù hợp với Quyết định số 466/QĐ.UB.HTN ngày 13/4/1996 của UBND huyện H. Tuy nhiên, Quyết định 426/QĐ-UBND đã được bổ sung tại Quyết định số 1875/QĐ-UBND, nên việc bồi thường cho ông H là đúng quy định của pháp luật.

[6.3] Về thẩm quyền ban hành:

Theo điểm a khoản 2 Điều 66, điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai 2013 thì Ủy ban nhân dân huyện H là cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Do vậy, Chủ tịch UBND huyện H kí ban hành Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/04/2018 và Quyết định 1875/QĐ-UBND ngày 17/11/2018 là chưa phù hợp nhưng thiếu sót này không ảnh hưởng tới quyền lợi của các đương sự.

[7] Xét tính hợp pháp của Quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của Chủ tịch UBND huyện H không đồng ý giao đất tái định cư.

Điểm b khoản 1 Điều 79 Luật đất đai 2013 quy định: Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

Điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất:

Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở”.

Ngày 11/3/2003, ông Trần Văn H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 30, diện tích 140m² đất ở tại thị trấn T, huyện H. Sau khi có quyết định thu hồi đất, ông H tặng cho bà Nguyễn Thị T1, cập nhật sang tên bà T1 vào ngày 23/11/2018. Như vậy, tại thời điểm thu hồi đất, ông H có đất ở trong cùng thị trấn với diện tích đất bị thu hồi và địa phương không có quỹ đất để bồi thường nên ông H yêu cầu bồi thường bằng đất là không có căn cứ. Quyết định số 06/QĐ-UBND không chấp nhận yêu cầu của ông H là đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H.

[8] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 30, Điều 32, Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 1 Điều 143, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
  • - Khoản 3 Điều 62, khoản 2 Điều 74, điểm b khoản 1 Điều 79, khoản 3 Điều 103 Luật Đất đai 2013;
  • - Điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
  • - Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với yêu cầu hủy Quyết định số 426/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn H và Quyết định số 1875/QĐ-UBND ngày 27/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) đối với hộ ông Trần Văn H.

2. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu hủy Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 26/3/2018 của UBND huyện H về việc thu hồi đất của hộ ông Trần Văn H và Quyết định số 1849/QĐ-UBND ngày 25/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H về việc cưỡng chế thu hồi đất.

3. Về án phí: Ông Trần Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, được trừ vào số tiền ông H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0008491 ngày 03/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/9/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HC-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 165/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Trần Văn Hòa khởi kiện UBND huyện Hàm Thuận Nam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger