Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 165/2023/HS-ST

Ngày: 22 - 11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH,TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Hồng Năm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Quốc Thân

2/ Ông Đinh Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký TAND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKS nhân dân thành phố L, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2023/QĐXXST-HS ngày 10/11/2023 đối với bị cáo:

Trương Huyền V, sinh năm 1976 tại Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: Khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn M, sinh năm 1952 và con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1952; vợ : Lê Thị Kim Q, sinh năm 1975. Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/9/2023.

( Bị cáo có mặt tại phiên tòa ).

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp A G, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở : Tổ D, khu phố B, phường B, thành phố L, Đồng Nai ( Có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Bà Lê Thị Kim Q, sinh năm 1975. Địa chỉ: tổ D, khu phố B, phường B, thành phố L, Đồng Nai ( Có mặt).
  2. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ B, ấp A G, xã B, thành phố L, Đồng Nai ( Có mặt).
  3. Ông Phù Đức L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ D, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai ( Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trương Huyền V có vợ là Lê Thị Kim Q, sinh năm 1975 ngụ tại khu phố B, phường B, thành phố L, Đồng Nai. Trước khi kết hôn với bị cáo V, bà Q đã sinh sống như vợ chồng với ông Nguyễn Văn S từ năm 2006 có 1 con chung. Đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn nên không tiếp tục chung sống nhưng chưa thống nhất với nhau về việc phân chia tài sản chung.

Khoảng 16 giờ 00 ngày 29/4/2022, bà Q đi xe mô tô hiệu Honda SH150i biển số 60B2- 806.59 cùng với bị cáo V đi đến ngôi nhà chung của bà Q và ông S tại tổ D, khu phố B, phường B, thành phố L, Đồng Nai để nói chuyện với ông S. Khi đến bị cáo V đứng chờ bên đường còn bà Q chạy xe vào nhà. Lúc này ông S đang ngồi nhậu với hai người bạn là ông Nguyễn Thanh P và ông Q1 (chưa rõ lai lịch). Bà Q vừa đến nhà thì xảy ra tranh cãi với ông S nên bị ông S đuổi đánh bỏ lại xe, chạy bộ ra ngoài đường hẻm. Bà Q gặp 2 cháu học sinh nữ đi học về trên xe đạp điện nên nhờ chạy đền khu vực “miếu ông H” gọi bị cáo V đến giúp. Bị cáo V chạy bộ đến chỗ bà Q đang đứng khúc cua rẽ vào nhà ông S ( cách nhà khoảng 15m) thì thấy ông S cầm cây gỗ dài khoảng 0,5m chạy bộ đến. Tại đây 02 người gặp mặt thì xảy ra đánh nhau. Ông S cầm cây đánh vào đầu bị cáo V gây thương tích. Bị cáo V đánh trả lại ông S bằng cách dùng tay đấm vào mặt ông S. Tiếp đó, 02 người ôm vật nhau ngã xuống mặt đường bê tông. Ông S vẫn ôm chặt chân bị cáo V không chịu buông ra nên bà Q đã giật cây gỗ trên tay ông S và can đánh nhau. Do ông S không chịu buông chân bị cáo V ra nên bị cáo V đã dùng tay, chân để đấm và đạp nhiều cái vào mặt ông S gây thương tích cho ông S.

Ông S được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ. Về phía bị cáo V cũng bị thương tích nhẹ nên nhờ anh Phù Đức L (con riêng của bà Q) chở về nhà, sau đó đến khám và điều trị thương tích tại bệnh viện Đ.

Bà Q quay lại nhà ông S lấy xe mô tô hiệu honda SH150i biển số 60B2-806.59 của bị cáo V thì thấy xe bị ngã phía trước nhà, giàn áo bị nứt vỡ và một số bộ phận khác bị hư hỏng nhẹ. Ban đầu bị cáo V yêu cầu xử lý hành vi gây thương tích và hủy hoại tài sản của ông S nhưng sau bị cáo đã rút yêu cầu.

Căn cứ giấy chứng nhận thương tích số 1673/CN-BV ngày 22/9/2022 của Bệnh viện đa khoa khu vực L thể hiện, ông Nguyễn Văn S vào viện lúc 19 giờ 17 phút ngày 29/4/2022, ra viện lúc 15 giờ ngày 10/05/2022 bị thương các thương tích sau:

  • Sưng nề vùng trán kích thước: 04cm x 04cm
  • Sưng nề vùng mi mắt và quanh mắt phải kích thước: 03cm x 03cm; xuất huyết kết mạc mắt phải; giác mạc mắt phải trong.
  • Sưng nề vùng sống mũi.
  • Sưng nề gò má hai bên; gò má phải biến dạng.
  • 01 vết thương môi bên trái kích thước :02cm x 01cmx 02cm.
  • Sẹo cũ vùng đuôi mắt phải, mi dưới mắt phải và gốc mũi.
  • Kết quả chụp X- quang ngực thẳng: hiện chưa phát hiện bất thường.
  • Kết quả chụp CT-SCanner sọ não.
    • Gãy thành trên ổ mắt phải, có thoát vị mô mỡ vào trong xoang hàm phải. Tụ dịch máu trong xoang hàm phải.
    • Sưng mô mềm tụ máu dưới da mắt phải.
  • Kết quả siêu âm ổ bụng: hiện chưa phát hiện bất thường..

Căn cứ giấy chứng nhận thương tích số 90/CN ngày 23/09/2022 của bệnh viện M1, thành phố Hồ Chí Minh thể hiện, ông Nguyễn Văn S vào viện lúc 10 giờ ngày 02/6/2022, ra viện lúc 16 giờ ngày 06/06/2022 bị thương tích như sau:

  • Thị lực mắt phải: 2/10, kính lỗ: 4/10, thị lực mắt trái: 6/10, kính lỗ 10/10.
  • Nhãn áp mắt phải: 14mmHg. Nhãn áp mắt trái: 18mmHg.
  • Khám mắt phải: Hạn chế vận nhãn trên dưới, giác mạc trong, tiền phòng(+), đục thủy tinh dưới bao sau, phần còn lại khó quan sát.
  • Siêu âm: mắt phải: vẫn đục pha lê thể.
  • CT-Scan: Mắt phải: Hốc mắt phải: gãy sàn thành dưới hốc mắt, một phần tổ chức mô mềm trong hốc mắt, thoát vị xuống xoang hàm phải. viên xoang hàm phải mạn.
  • Khám mắt trái: Xuất huyết kết mạc, bầm mi, giác mạc trong, tiền phòng (+), đồng tử 3mm, phản xạ ánh sáng bình thường, đục thủy tinh thể dưới bao sau, phần còn lại khó quan sát.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 11/23/TgT ngày 03/01/2023, Phân viện pháp y quốc gia thành phố H kết luận:

1/ Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Sẹo kích thước nhỏ vùng môi trên phía trong bên trái.
  • Gãy 1 phần cạnh cắn răng 2.1
  • Gãy sàn hốc mắt bên phải.
  • Mù mắt phải.

2/Kết luận:

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019, của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn S là: 46%( theo nguyên tắc cộng tại thông tư). Thương tích trên của nạn nhân Nguyễn Văn S là do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Về vật chứng thu giữ: thu giữ 1 xe mô tô hiệu honda SH150i biển số 60B2-806.59. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo V nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.

Về dân sự : bị hại Nguyễn Văn S yêu cầu bị cáo V bồi thường tổng số tiền là 199.449.000đ, hiện bị cáo V đã bồi thường số tiền 50.000.000đ. Phần còn lại bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 110/CT-VKS ngày 02/07/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Trương Huyền Vương về tội: “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngày 31/07/2023 Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quyết định số 23/2023/HSST-QĐ ngày 31/07/2023 yêu cầu thu thập thêm chứng cứ và xác định có đồng phạm.

Ngày 14/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh có công văn số 417/CV-VKSLK hoàn trả lại hồ sơ điều tra bổ sung và cho rằng việc Tòa án trả hồ sơ là không có cơ sở.

Tại phiên tòa xét xử ngày 15/9/2023, bị cáo V có yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật của bị hại. Đồng thời, tại phiên tòa sau bà Lê Thị Kim Q cũng thừa nhận có cầm cây đánh ông S nên cần điều tra làm rõ vai trò đồng phạm của bà Q. Hội đồng xét xử ( HĐXX) đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, yêu cầu bổ sung hai nội dung gồm: Giám định lại tỷ lệ thương tật của ông Nguyễn Văn S, đồng thời xem xét vai trò đồng phạm của bà Lê Thị Kim Q. Sau khi trả hồ sơ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành thu thập lại bệnh án của bị hại Sớm, tiến hành lập biên bản xác minh gửi đến Trung Tâm P1 tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 23/10/2023, Trung tâm P1 tại thành phố Hồ Chí Minh có văn bản phúc đáp về nội dung này như sau: “ Sẹo cũ vùng đuôi mắt phải, mi dưới mắt phải và gốc mũi ( bệnh nhân khai chấn thương cũ lúc hơn 10 tuổi) là tổn thương cũ xảy ra trước ngày 29/4/2022 và các tổn thương này không ảnh hưởng đến tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn S thể hiện tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 11/23/TgT ngày 03/01/2023 Phân Viện Pháp y quốc gia tại TP .”.

Tại bản cáo trạng số: 171/CT-VKS ngày 02/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Trương Huyền V về tội: “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Huyền V phạm tội: “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Trương Huyền V từ 02 (Hai) năm tù đến 02 ( Hai) năm 06 ( S1) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 199.449.800đ và yêu cầu bổ sung thêm 122.336.400đ. Xét các yêu cầu như sau:

  • Tiền ăn: bị hại yêu cầu 76 ngày/2 người là 15.960.000đ. Nhận thấy: tổng thời gian nằm viện là 16 ngày x 2 người = 32 ngày. 32 ngày x 210 = 6.720.000đ. Do vậy chỉ chấp nhận ở mức 6.720.000₫.
  • Tiền thuê xe đi về: bị hại yêu cầu 1.600.000 đồng phù hợp nên chấp nhận.
  • Tiền thuê người nuôi bệnh, bị hại yêu cầu 22.800.000 đồng. Nhận thấy; từ ngày 30/4 đến 6/6 là 38 ngày x 300.000đ/1 ngày = 11.400.000 đồng. Do vậy chỉ chấp nhận ở mức 11.400.000đ.
  • Chấp nhận: Tiền thuốc là 20.519.000đ và tiền giám định là 15.000.000₫
  • Tiền mất việc do lao động phổ thông. Bị hại yêu cầu 12 tháng =118.000.000₫. Chỉ chấp nhận ở mức 06 tháng từ tháng 4 đến tháng 10/2022. 6 tháng với tổng số tiền 59.000.000 đồng. Tổng số tiền có cơ sở chấp nhận là: 6.720.000đ + 1.600.000₫ + 11.400.000₫ + 20.519.000₫ + 15.000.000₫ + 59.000.000₫ = 114.239.000₫.

Đối với số tiền bị hại yêu cầu bổ sung:

  • Tiền tổn thất về tinh thần bị hại yêu cầu 74.500.000đ. Nhận thấy, trong vụ án này bị hại sau khi uống rượu, bia đã chủ động đánh bà Q và đánh bị cáo trước, mâu thuẫn chính để xảy ra tranh chấp xuất phát từ quan hệ tài sản giữa bị hại với bà Q với bị hại S. Do vậy, không có cơ sở để xác định ông S bị thiệt hại về uy tín, danh dự, nhân phẩm... nên không có cơ sở chấp nhận.
  • Tiền viện phí: Chấp nhận các khoản mổ mắt phải có hóa đơn kèm theo, thuốc chữa bệnh cho các khoản này.
  • Tiền đi lại, tiền ăn chấp nhận 02 chuyến, mỗi chuyến là 1.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án một số lời khai của bị cáo với lời khai của bị hại mâu thuẫn nhau thể hiện:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 29/4/2022, do bà Q và ông S có mâu thuẫn với nhau trong việc ly hôn nên có hẹn gặp nhau để nói chuyện. Khi bà Q đến gặp ông S, thì bị cáo V đứng chờ bên đường còn bà Q chạy xe vào nhà. Lúc này ông S đang ngồi nhậu với hai người bạn là ông Nguyễn Thanh P và ông Q1 (chưa rõ lai lịch). Bà Q vừa đến nhà thì xảy ra tranh cãi với ông S nên bị ông S đuổi đánh bỏ lại xe, chạy bộ ra ngoài đường hẻm. Bị cáo V chạy bộ đến chỗ bà Q đang đứng khúc cua rẽ vào nhà ông S ( cách nhà khoảng 15m) thì theo bị cáo V thấy ông S cầm cây gỗ dài khoảng 0,5m chạy bộ đến. Tại đây 02 người gặp mặt thì xảy ra đánh nhau. Lời khai của bị cáo và bị hại không thống nhất, bị cáo khai “ Ông S cầm cây đánh vào đầu bị cáo V gây thương tích.” Còn bị hại S khai: “ Bị cáo V đánh bị hại trước, bị hại không cầm cây như bị cáo khai”. Tiếp đó, 02 người ôm vật nhau ngã xuống mặt đường bê tông. Ông S vẫn ôm chặt chân bị cáo V không chịu buông ra nên theo bà Q thì bà đã giật cây gỗ trên tay ông S và đánh ông S 1 cái vào chân miệng thì kêu “...công an đến kìa bỏ ra đi...”. Do ông S không chịu buông chân bị cáo V ra nên bị cáo V đã dùng tay, chân để đấm và đạp nhiều cái vào mặt ông S gây thương tích cho ông S. Việc này thì bị cáo V thừa nhận.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 11/23/TgT ngày 03/01/2023, Phân viện pháp y quốc gia thành phố H kết luận:

1/ Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo kích thước nhỏ vùng môi trên phía trong bên trái; Gãy 1 phần cạnh cắn răng 2.1; Gãy sàn hốc mắt bên phải; Mù mắt phải.

2/ Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019, của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn S là : 46% ( theo nguyên tắc cộng tại thông tư).

Tại phiên tòa xét xử ngày 15/9/2023, bị cáo V có yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật của bị hại nên Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tật của ông Nguyễn Văn S. Ngày 23/10/2023, Trung tâm P1 tại thành phố Hồ Chí Minh có văn bản phúc đáp về nội dung này như sau: “ Sẹo cũ vùng đuôi mắt phải, mi dưới mắt phải và gốc mũi ( bệnh nhân khai chấn thương cũ lúc hơn 10 tuổi) là tổn thương cũ xảy ra trước ngày 29/4/2022 và các tổn thương này không ảnh hưởng đến tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn S thể hiện tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 11/23/TgT ngày 03/01/2023 Phân Viện Pháp y quốc gia tại TP . ".

Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Huyền V phạm tội: “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy việc truy tố, xét xử bị cáo V là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Chỉ vì mâu thuẫn giữa vợ của bị cáo với bị hại Sớm về việc chia tài sản chung mà bị cáo đã đánh bị hại Sớm mù mắt phải với tỷ lệ 46%. Nên hành vi của bị cáo V được quy định tại điểm a khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo một thời gian nhất định nhằm răn đe và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: bị cáo V không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã thỏa thuận và tự nguyện bồi thường thêm phần thiệt hại cho bị hại, bị hại Sớm cũng có phần lỗi nên bị cáo V được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại Sớm yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 199.449.800đ và yêu cầu bổ sung với số tiền là 101.052.000đ cụ thể là :

  • Chi phí nằm viện tiền thuốc = 20.519.000đ.
  • Tiền ăn của người bệnh và nuôi bệnh từ ngày 30/4/2022 đến ngày 06/06/2022 là 76 ngày x 210.000đ 1/ ngày = 15.960.000đ.
  • Tiền nhà nghỉ 10 ngày= 3.500.000₫.
  • Tiền thuê xe đi và về = 1.600.000₫.
  • Tiền thuê người nuôi bệnh từ ngày 30/4/2022 đến ngày 6/6/2022 là = 76 ngày x 300.000₫ = 22.800.000₫.
  • Toa thuốc ngày 13/6 = 670.000đ.
  • Tiền giám định thương tật tại Đồng Nai= 3.500.000đ.
  • Hai lần giám định tại thành phố Hồ Chí Minh = 11.500.000đ.

Tổng cộng tiền chi phí là : 93.779.000đ.(1)

Tiền thu nhập từ khi nằm viện là 30/4/2022 cho đến nay 14/2/2023: 10 tháng 14 ngày = 1 tháng 10 triệu = 105.000.000đ.(2)

Ngày 21/11/2023 ông S có đơn bổ sung đòi bồi thường thiệt hại đối với khoản chi phí mổ mắt lần 2 và tiền bù đắp tổn thất tinh thần cụ thể: Chi phí mổ lần 2 là: 26.552.000đ; Tiền bù đắp tổn thất tinh thần là: 1.490.000đ x 50 lần= 74.500.000đ. Tổng là : 101.052.000₫ (3)

Tổng cộng bị hại Sớm yêu cầu bồi thường là 93.779.000đ +105.000.000₫ + 101.052.000₫ = 299.831.000₫.

Xét các khoản bị hại yêu cầu HĐXX chấp nhận như sau:

  • Chi phí khám chữa bệnh trong thời gian 20 ngày: Tại bệnh viện Đ là 12 ngày, tại bệnh viện mắt là 5 ngày và bệnh viện răng hàm mặt là 2 ngày và bệnh viện mắt lần 2 là 1 ngày với tổng số tiền là: 32.858.000đ.
  • Chi phí thuê phương tiện đi lại trong thời gian chữa bệnh: 5.500.000₫
  • Chi phí bồi dưỡng sức khỏe: Ngày lương tối thiểu vùng là 180.000đ/ngày x 38 ngày (từ ngày 30/4/2022 đến ngày 06/06/2022 ) = 6.840.000đ.
  • Thuê người chăm sóc trong thời gian chữa bệnh: 20 ngày x 300.000đ/ngày = 6.000.000đ.
  • Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút: 180.000đ/ngày x 30 ngày = 5.400.000đ.
  • Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút: 6 tháng x 5.000.000đ ( thu nhập trung bình của lao động cùng loại) = 30.000.000₫
  • Chi phí giám định thương tật là : 10.657.000đ.
  • Thiệt hại tổn thất tinh thần: 1.800.000đ x 15 lần = 27.000.000₫

Tổng cộng các khoản phải bồi thường là: 124.255.000đ ( Một trăm hai mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

Bị cáo V đã bồi thường cho bị hại Sớm số tiền là 70.000.000đ nên bị cáo V phải tiếp tục bồi thường thêm cho ông S số tiền còn lại là 54.255.000đ ( Năm mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

[6] Về án phí: Bị cáo V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.712.750₫ (54.255.000₫ x 5%= 2.712.750đ ) án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Các vấn đề khác:

  • Đối với việc ông Nguyễn Văn S gây thương tích cho bị cáo V với tỷ lệ 1% ban đầu bị cáo V có đơn đề nghị khởi tố nhưng sau bị cáo rút yêu cầu nên không xem xét xử lý.
  • Đối với việc ông S đánh bà Q, do vết thương nhẹ nên bà Q không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu xử lý ông S nên không có cơ sở xử lý.
  • Đối với hành vi làm hư hỏng chiếc xe mô tô biển số 60B2-806.59 của bị cáo V. Do ông S không thừa nhận và không có chứng cứ chứng minh nên bị cáo V đã rút yêu cầu nên không có cơ sở xem xét.
  • Đối với hành vi của bà Lê Thị Kim Q cầm cây đánh bị hại Nguyễn Văn S, Hội đồng xét xử xác định hành vi của bà Q là đồng phạm với bị cáo V trong việc gây ra thương tích cho ông S. Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh xác định hành vi đánh ông S của bà Q là “ đánh là để can ra”. Hội đồng xét xử nhận thấy việc nhận định của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Do giới hạn của việc xét xử quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử, Hội đồng xét xử sẽ báo cáo và đề xuất Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, báo cáo nội dung vụ việc đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để kiến nghị cấp có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm theo hướng khởi tố, truy tố bổ sung về hành vi đồng phạm của bà Lê Thị Kim Q tránh bỏ lọt hành vi phạm tội.

[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh: đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh không chấp nhận việc bị hại Sớm yêu cầu tiền bù đắp tổn thất tinh thần là chưa phù hợp. Hội đồng xét xử nhận thấy bị hại Sớm bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46%, mù mắt phải nên yêu cầu này của bị hại phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận 1 phần cho bị hại.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp 1 phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận 1 phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 590, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự

- Căn cứ Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Huyền V phạm tội : “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo: Trương Huyền V 02 ( Hai) năm 10 ( Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/09/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trương Huyền V có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn S các khoản chi phí như sau:

  • Chi phí khám chữa bệnh trong thời gian 20 ngày: Tại bệnh viện Đ là 12 ngày, tại bệnh viện mắt là 5 ngày và bệnh viện răng hàm mặt là 2 ngày và bệnh viện mắt lần 2 là 1 ngày với tổng số tiền là: 32.858.000đ.
  • Chi phí thuê phương tiện đi lại trong thời gian chữa bệnh: 5.500.000₫
  • Thuê người chăm sóc: 20 ngày x 300.000đ/ngày = 6.000.000đ.
  • Chi phí bồi dưỡng sức khỏe: Ngày lương tối thiểu vùng là 180.000đ/ngày x 38 ngày = 6.840.000₫
  • Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút: 180.000đ/ngày x 30 ngày = 5.400.000đ.
  • Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút: 6 tháng x 5.000.000đ ( thu nhập trung bình của lao động cùng loại) = 30.000.000₫
  • Chi phí giám định thương tật là : 10.657.000đ.
  • Thiệt hại tổn thất tinh thần: 1.800.000đ x 15 lần = 27.000.000₫

Tổng cộng các khoản phải bồi thường là: 124.255.000đ ( Một trăm hai mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

Bị cáo V đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn S số tiền là 70.000.000đ nên bị cáo V phải tiếp tục bồi thường thêm cho ông S số tiền còn lại là 54.255.000đ ( Năm mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

4. Về án phí: Bị cáo V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.712.750₫ (54.255.000đ x 5%= 2.712.750đ ) án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày ông Nguyễn Văn S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Trương Huyền V chưa thanh toán xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.

6. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tp. Long Khánh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS tp. Long Khánh;
  • - Nhà tạm giữ CA tp. Long Khánh;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phí Thị Hồng Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 165/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 00 ngày 29/4/2022, do bà Quyên và ông Sớm có mâu thuẫn với nhau trong việc ly hôn nên có hẹn gặp nhau để nói chuyện. Khi bà Quyên đến gặp ông Sớm, thì bị cáo Vương đứng chờ bên đường còn bà Quyên chạy xe vào nhà. Lúc này ông Sớm đang ngồi nhậu với hai người bạn là ông Nguyễn Thanh Phong và ông Quới (chưa rõ lai lịch). Bà Quyên vừa đến nhà thì xảy ra tranh cãi với ông Sớm nên bị ông Sớm đuổi đánh bỏ lại xe, chạy bộ ra ngoài đường hẻm. Bị cáo Vương chạy bộ đến chỗ bà Quyên đang đứng khúc cua rẽ vào nhà ông Sớm ( cách nhà khoảng 15m) thì theo bị cáo Vương thấy ông Sớm cầm cây gỗ dài khoảng 0,5m chạy bộ đến. Tại đây 02 người gặp mặt thì xảy ra đánh nhau. Lời khai của bị cáo và bị hại không thống nhất, bị cáo khai “ Ông Sớm cầm cây đánh vào đầu bị cáo Vương gây thương tích.” Còn bị hại Sớm khai: “ Bị cáo Vương đánh bị hại trước, bị hại không cầm cây như bị cáo khai”. Tiếp đó, 02 người ôm vật nhau ngã xuống mặt đường bê tông. Ông Sớm vẫn ôm chặt chân bị cáo Vương không chịu buông ra nên theo bà Quyên thì bà đã giật cây gỗ trên tay ông Sớm và đánh ông Sớm 1 cái vào chân miệng thì kêu “...công an đến kìa bỏ ra đi...”. Do ông Sớm không chịu buông chân bị cáo Vương ra nên bị cáo Vương đã dùng tay, chân để đấm và đạp nhiều cái vào mặt ông Sớm gây thương tích cho ông Sớm. Việc này thì bị cáo Vương thừa nhận.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger