Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 1649/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/6/2025

V/v "Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thế Hùng
  2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc P – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 315/2025/TLST– HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4260/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 5141/QĐH-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim T, sinh năm 1991
    Thường trú: 135/4 T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992
    Thường trú: 135/4 T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Bùi Thị Kim T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện chung sống có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành Phố Hồ Chí Minh. Sau kết hôn vợ chồng sống với gia đình tại 1 T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về lối sống, ông T1 có quan hệ với người phụ nữ khác nên không quan tâm tới vợ con, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Mặc dù bà đã cố gắng hoà giải nhưng cả hai vẫn không thể kiềm chế được nỗi bức xúc mỗi khi chung sống trong cùng một mái nhà. Cuộc sống của bà giờ rất ngột ngạt điều này gây ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ và tâm lý của con. Bà và ông T1 đã ly thân và nộp đơn thuận tình ly hôn tuy nhiên ông T1 thay đổi ý kiến, không đồng ý ly hôn, dọn ra ngoài sống, không liên lạc về nhà, không tới tòa để giải quyết. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn T1 có một con chung tên Nguyễn Bùi Duy K, sinh ngày 21/11/2015. Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung: Bà xác định không có.

- Về nợ chung: Bà xác định không có.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, bà Bùi Thị Kim T có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên các yêu cầu đã trình bày trước đây.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo và giấy triệu tập về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án, cũng không có ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Bà Bùi Thị Kim T có đơn yêu cầu vắng mặt; theo quả xác minh, Công an phường H trả lời ông Nguyễn Văn T1 có hộ khẩu thường trú 135/4 T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay đi đâu không rõ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng nêu trên để giải quyết vụ án, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 77/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành Phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06 tháng 07 năm 2015. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông T1, bà P1 là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu của bà T về việc được ly hôn với ông T1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo trình bày của đương sự tại bản tự khai và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông T1 có quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Bà T đã cho nhiều cơ hội mà ông T1 không thay đổi. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài và đã vượt quá sức chịu đựng của bà. Bà T xác định, hai vợ chồng đã ly thân. Trong quá trình ly thân, ông bà không ai có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Xét thấy, vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo những gì bà T trình bày cho thấy quan hệ hôn nhân của ông, bà hiện tại đã lâm vào tình trạng nghiêm trọng. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T1 không đến toà, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Điều này cho thấy ông T1 cũng không còn sự quan tâm, không thể hiện được thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà T. Như vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[4].Về con chung: Căn cứ vào giấy trích lục khai sinh số 39/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành Phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19 tháng 01 năm 2016 có cơ sở xác bà Bùi Thị Kim T và ông Nguyễn Văn T1 có một con chung tên Nguyễn Bùi Duy K, sinh ngày 21/11/2015.

Xét yêu cầu nuôi con chung của bà T: Bà T có công việc thu nhập ổn định, có chỗ ở ổn định, con có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Ngoài ra, hiện bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con và từ nhỏ tới giờ con đều do bà T chăm sóc. Nên yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của bà T là có cơ sở để chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

[5].Về tài sản chung: Bà T xác định tự không có.

[6].Về nợ chung: Bà Thuận tự xác định không có.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim T
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
    2. Về con chung: Bà Bùi Thị Kim T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Bùi Duy K, sinh ngày 21/11/2015. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Bùi Thị Kim T không yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

      Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết cha, mẹ hoặc cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

    3. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Kim T tự xác định không có.
    4. Về nợ chung: Bà Bùi Thị Kim T tự xác định không có
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0080479 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân Thành phố Thủ Đức. Bà Bùi Thị Kim T đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Thủ Đức
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1649/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1649/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger