|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 1644/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/6/2025 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 2460/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3855/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 4996/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1985.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 1979.
Thường trú: Ấp P, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Thường trú: 74/1 đường số A, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, có tổ chức lễ cưới, tuy nhiên đến năm 2008 mới thực hiện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 07/8/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống khá hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau thì thường phát sinh mâu thuẫn, gây gổ, cãi vã.
Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc và tình cảm. Một mình bà phải gồng ghánh lo cuộc sống gia đình. Rất nhiều lần, cả hai đã cùng nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con chung nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn không được cải thiện. Vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, sự chia sẻ và cảm thông. Hơn một năm nay, bà và ông T1 đã không còn chung sống với nhau. Nay tại Tòa, bà xác định không còn tình cảm với ông T1, yêu cầu Tòa án giải quyết dứt khoát cho bà được ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Ngọc T1 có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 18/11/2007 và Nguyễn Văn B, sinh ngày: 15/01/2021. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
1. Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị T xin ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T1, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông T1 hiện đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và tiến hành triệu tập đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1, yêu cầu ông T1 đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
2. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 07/8/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà T và ông T1 được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T1 vì vợ chồng không còn lòng tin và sự chia sẻ với nhau; bà và ông T1 đã nhiều lần cùng nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không có tiến triển tốt. Xét thấy, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1 đến Tòa làm việc, tiến hành hòa giải để hai bên có cơ hội đoàn tụ nhưng ông T1 đều vắng mặt không có lý do, là đã không thể hiện ý chí muốn hàn gắn tình cảm. Bà T trình bày cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, rất mệt mỏi, gây nhiều áp lực về tinh thần, bà đã không còn tình cảm với ông T1 và thực tế đã không còn chung sống với nhau. Như vậy, hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1 có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 18/11/2007 và Nguyễn Văn B, sinh ngày: 15/01/2021. Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy bà T có thu nhập, nơi ở ổn định, có thời gian và khả năng chăm sóc con chung; hiện 02 con chung do bà T trực tiếp nuôi dưỡng và được chăm sóc tốt; con chung tên Nguyễn Ngọc H trình bày nguyện vọng muốn sống với mẹ. Ông T1 không đến Tòa để trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó để bảo đảm môi trường sống ổn định và điều kiện tốt để con chung phát triển về thể chất, tinh thần nên giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T1 (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 07/8/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 18/11/2007 và Nguyễn Văn B, sinh ngày: 15/01/2021 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0044725 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Ngọc T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 1644/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 1644/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
