Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 164/2024/HS-ST

Ngày: 22-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoài Đức Huệ - Trưởng Ban đại diện Hội Người cao tuổi huyện Nhơn Trạch (hưu trí);

Bà Trần Thanh Phương - Nguyên Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện Nhơn Trạch (hưu trí).

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Thị H; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Tạm trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: không; Họ tên cha: không xác định được; Họ tên mẹ: bà Hoàng Thị P; H1 tên chồng: Nguyễn Văn S (sinh năm 1991), có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ 2022); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2024 đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Cháu Lâm Trương Minh K, sinh ngày 23/7/2020. Nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Anh Lâm Văn T, sinh năm: 1981. Nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Chị Trương Thị D, sinh năm: 1988. Nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Anh Lâm Văn T là cha, chị Trương Thị D là mẹ của cháu Lâm Trương Minh K, chị Trương Thị D ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Lâm Văn T) (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thị H là cô vẫn đang, chứng chỉ nghiệp vụ quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ em theo quy định của pháp luật nhưng tự ý mở cơ sở trông giữ trẻ tại phòng trọ của mình tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 07/06/2021, chị Trương Thị D (sinh năm 1988) đưa con trai là cháu Lâm Trương Minh K (sinh ngày 23/7/2020) đến phòng trọ của H để gửi cháu K. Đến 06 giờ, H cho cháu K ăn, cháu K ăn được khoảng 4 thìa cháo thì có hết và ngoài nên H để cháu ngồi chơi đồ chơi ở nền nhà. Khoảng 07 giờ, các cháu khác được cha mẹ đưa đến gửi, H nhận trông giữ tại phòng trọ tổng cộng 7 cháu. Đến hơn 08 giờ, H thấy cháu K khóc đòi uống sữa nên tìm bình sữa của cháu K nhưng không thấy nên đã lấy bình sữa của cháu Anh T (hơn 2 tuổi) pha 150ml sữa và để cho cháu K tự cầm bình sữa nằm trên võng uống, còn H chăm các cháu khác. Cháu K bú bình được khoảng 15 phút thì H thấy cháu bỏ bình sữa ra đã uống được khoảng một nửa và ngủ trên võng. Cho rằng cháu K ngủ nên H để yên cháu nằm trên võng và chăm các cháu khác. Đến gần 11 giờ cháu K tỉnh dậy, H cho cháu K nằm võng và tự cầm bình sữa uống hết số sữa còn lại, còn H thì chăm các cháu khác ăn trưa. Cháu K uống hết bình sữa thì lại nằm trên võng ngủ tiếp. H đem bình sữa đi rửa và pha sữa cho cháu khác uống. Khi các cháu khác ăn xong ngủ hết thì H cũng nằm dưới nền nhà ngủ, còn cháu K ngủ trên võng. Đến gần 14 giờ, H nghe thấy H1 thấy cháu K nằm trên võng người tím tái, miệng há, không còn thở nên H bế cháu sang nhà hàng xóm nhờ chở đến Phòng khám 12 tại khu phố P, thị trấn H, huyện N để cấp cứu nhưng cháu K đã tử vong.

Vật chứng thu giữ: 01 bình bú sữa cho trẻ em bằng nhựa loại 150ml có nắp vặn màu đỏ, trên bình sữa có ghi nhãn hiệu “NUK”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1287/KLGD-PC09 ngày 12/07/2021 của Phòng Kĩ Công an tỉnh Đ kết luận:

- Dấu hiệu chính: Miệng có ít dịch màu nâu. Không dấu vết ngoại lực tác động. Trong thanh - khí quản có nhiều dịch, chất đặc lợn cợn màu trắng (sữa). Hai phổi phù căng, nhu mô kém xốp, sung huyết, xuất huyết, cắt qua ít dịch bọt màu hồng. Dạ dày có nhiều dịch và chất đặc lợn cợn màu trắng (sữa). Mô bệnh học: Phù nề, sung huyết nặng ở phổi và hình ảnh tắc nghẽn hệ thống phế quản. Các tạng khác phù nề, sung huyết.

- Nguyên nhân tử vong: Suy hô hấp cấp do hít sặc sữa vào đường thở.

Tại Công văn số 326/PC09 ngày 02/11/2021, Phòng K1 Công an tỉnh Đ xác định thời điểm tử vong của cháu K cách thời gian cho cháu uống sữa khoảng 1 đến 2 giờ (thời gian cho cháu uống sữa khoảng hơn 11h00 ngày 07/06/2021).

- Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Thị H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu K số tiền là 62.000.000đ. Anh Lâm Văn T là đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với H và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 165/CT-VKSNT, ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Hoàng Thị H về tội “Vô ý làm chết người” quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 12 tháng tù đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 32 tháng. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 bình bú sữa cho trẻ em bằng nhựa loại 150ml có nắp vặn màu đỏ, trên bình sữa có ghi nhãn hiệu “NUK”. Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Thị H đã hỗ trợ gia đình cháu K số tiền là 62.000.000đ. Anh Lâm Văn T đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với H và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng:

    1. [1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố: hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự thủ tục thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

    2. [1.2] Về sự vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại: Đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của những người này đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại.

  2. [2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, Kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 07/6/2021 tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Hoàng Thị H có hành vi cho cháu Lâm Trương Minh K bú sữa không đúng tư thế, để cháu K vừa ngủ vừa bú sữa và sử dụng núm vú cao su không đúng độ tuổi, do lỗ thông đục ở đầu vú cao su to làm sữa chảy nhanh, mạnh khiến cho trẻ nuốt không kịp; hậu quả làm cháu K tử vong do suy hô hấp cấp do hít sặc sữa vào đường thở. Do đó, bị cáo Hoàng Thị H đã phạm vào tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  3. [3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ không chỉ trực tiếp xâm hại đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an ở địa phương, khiến dư luận bất bình đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với một hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

  5. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, bị cáo thuộc hộ nghèo và là lao động chính trong gia đình, một mình phải trực tiếp nuôi dạy 02 con còn nhỏ (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ 2022) do khi tử vong chồng bị cáo sống ly thân, các con của bị cáo sống cùng với bị cáo tại phòng trọ tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; bị cáo phạm tội lần đầu; Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt; Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; thật sự ăn năn hối cải và có khả năng tự cải tạo mình, trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo không vi phạm pháp luật. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là hoàn toàn phù hợp, đồng thời cũng đủ khả năng giáo dục phòng ngừa và thể hiện sự nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước mà tích cực cải tạo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội và gia đình.

  6. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 62.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu giải quyết về phần dân sự và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. [7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu hủy: 01 bình bú sữa cho trẻ em bằng nhựa loại 150ml có nắp vặn màu đỏ, trên bình sữa có ghi nhãn hiệu “NUK”.

  8. [9] Về tội danh, điều luật, mức án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  9. [10] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Hoàng Thị H thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

    Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Hoàng Thị H biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

    Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  10. [11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

  11. [12] Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H: 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 22-7-2024).

Giao bị cáo: Hoàng Thị H cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 bình bú sữa cho trẻ em bằng nhựa loại 150ml có nắp vặn màu đỏ, trên bình sữa có ghi nhãn hiệu “NUK”.

(Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch theo quyết định chuyển vật chứng số 119/VKS-NT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10 tháng 6 năm 2024.)

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hoàng Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan THA HS có thẩm quyền;
  • - Sở tư pháp;
  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội vô ý làm chết người

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị H phạm tội “Vô ý làm chết người”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger