Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ L

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2023/HNGĐ-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2023

Tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân; Bà Lê Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 531/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 522/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 499/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim T, sinh năm 1982.

    Địa chỉ thường trú: Số A, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có đơn xin vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1980. Vắng mặt

    Địa chỉ thường trú: Số A, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/9/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Kim T trình bày: Năm 2001, bà T và ông P quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 16/4/2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, do ông P thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông P, vì cả hai có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Về con chung: có 02 con chung tên Lê Phương T1, sinh ngày 06/06/2001 đã trưởng thành, có khả năng tự lập và Lê Thị Kim T2, sinh ngày 20/3/2014, khi ly hôn bà T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, bà T và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Lê Văn P không nộp văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đăng ký thường trú tại thành phố L nên nguyên đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn nhận được các văn bản do Tòa án cấp tống đạt nhưng vắng lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ bản sao giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 16/4/2021 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quá trình chung sống, nguyên đơn cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thiếu sự chia sẻ, cảm thông nhau trong cuộc sống vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không có ý kiến.

Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tin tưởng và chia sẻ nhau những khó khăn để vượt qua thử thách, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho gia đình hạnh phúc. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không xây dựng gia đình hạnh phúc, không tin tưởng nhau trong đời sống vợ chồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không quan tâm, không phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, xét về tình nghĩa vợ chồng thì cả hai không chung sống nên không còn nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông P có 02 con chung tên Lê Phương T1, sinh ngày 06/06/2001 đã trưởng thành, có khả năng tự lập và Lê Thị Kim T2, sinh ngày 20/3/2014. Bà T đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 và yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2 sau khi ly hôn nhưng ông P không có ý kiến phản đối. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành cũng như xem xét điều kiện, hoàn cảnh của nguyên đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận giao quyền cho bà T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng: Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;

Xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim T được ly hôn với ông Lê Văn P. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Bà T và ông P có 02 con chung tên Lê Phương T1, sinh ngày 06/6/2001, đã trưởng thành, có khả năng tự lập và Lê Thị Kim T2, sinh ngày 20/3/2014. Bà T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T2.

    Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.

  3. Về cấp dưỡng: Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn Phạm Thị Kim T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002329 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Nguyên đơn đã thực hiện xong.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

(Giải thích điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp.L;
  • - VKSND Tp.L;
  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang;
  • - UBND phường Mỹ Thạnh, Tp.L;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L – TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 164/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L – TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim T được ly hôn với ông Lê Văn P. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. [2] Về con chung: Bà T và ông P có 02 con chung tên Lê Phương T1, sinh ngày 06/6/2001, đã trường thành, có khả năng tự lập và Lê Thị Kim T2, sinh ngày 20/3/2014. Bà T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T2.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger