Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2023/DS-ST

Ngày: 27-12-2023.

“V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự -

đặt cọc”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Thanh. 2. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Phan Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 27/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 550/2023/TLST-DS ngày 18/10/2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự - đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 409/2023/QĐXXST-DS, ngày 06/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 302/2023/QÐST-DS, ngày 22/11/2023; Quyết định Tạm ngừng phiên tòa số 79/2023/QÐST-DS, ngày 05/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 326/2023/QÐST-DS, ngày 21/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Minh Cửu L, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Số A, đường H, Tổ H, Khóm A, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp,

- Bị đơn: Võ Hoàng T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số nhà G, đường N, Tổ B, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Ngày 25/10/2019, ông L có nhận chuyển nhượng của ông T một phần của thửa đất số 326, tờ bản đồ số 33, diện tích 150m² (ngang 6m, dài 25m), tọa lạc tại Tổ B, ấp T, xã T, thành phố C; giá chuyển nhượng là 85.000.000đồng, có làm biên nhận thỏa thuận đặt cọc ngày 25/10/2019. Theo nội dung thỏa thuận, ông L đã giao số tiền 20.000.000 đồng cho ông T để đặt cọc việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nêu trên, ông T có trách nhiệm thực hiện các thủ tục theo quy định để hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong trường hợp ông T không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng hoặc nếu có ngăn cấm, tranh chấp đối với phần đất trên thì ông T đồng ý bồi thường gấp 4 lần số tiền đặt cọc cho ông L. Việc thỏa thuận này có lập thành văn bản, ông T có ký tên, trong văn bản này. Sau một thời gian không thấy ông T tiến hành làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình, ông L có liên hệ với ông T để đưa số tiền còn lại chuyển nhượng là 65.000.000 đồng, nhưng ông T không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng phần đất trên. Nay ông Trần Minh Cửu L yêu cầu ông Võ Hoàng T trả cho ông số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000đồng và tiền phạt cọc do ông T đã vi phạm thỏa thuận đặt cọc là 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) theo biên nhận thỏa thuận đặt cọc ngày 25/10/2019, tổng cộng là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Tại phiên tòa, ông L yêu cầu ông T trả cho ông số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000đồng và tiền phạt cọc là 80.000.000 đồng, tổng cộng là 100.000.000 đồng.

- Bị đơn trình bày: Ngày 25/10/2019, ông L có nhận chuyển nhượng của ông T một phần của thửa đất số 326 như ông L trình bày; giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là 85.000.000đồng, có làm biên nhận thỏa thuận đặt cọc ngày 25/10/2019. Theo nội dung thỏa thuận, ông L đã giao số tiền 20.000.000 đồng cho ông T để đặt cọc việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nêu trên, ông L có trách nhiệm thực hiện các thủ tục theo quy định để hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L để ông L làm thủ tục sang tên nhưng ông L nói với ông T là Nhà nước không đồng ý tách thửa do không đủ diện tích theo quy định, ông L trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T vào cuối năm 2019. Năm 2020, ông T nhắc nhỡ ông L việc chuyển nhượng nhưng ông L không đồng ý, ông T nói với ông L nếu không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng thì ông L mất tiền cọc, ông L không đồng ý nên hai bên phát sinh mâu thuẫn đến nay. Nay ông Võ Hoàng T đồng ý trả cho ông L số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), không đồng ý phạt cọc số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) theo yêu cầu của ông L vì việc không thực hiện việc chuyển nhượng là nguyên nhân khách quan, không đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định pháp luật, không phải lỗi của ông T; Thực tế trong hợp đồng ghi “nếu bên mua không bán thì bồi thường gấp 02 lần”, không phải 04 lần như ông L trình bày.

Tại phiên hòa giải ngày 01/11/2023 và tại phiên tòa ngày 05/12/2023, ông T đồng ý trả cho ông L số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng và tiền phạt cọc 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ngày 27/12/2023, ông T đồng ý trả cho ông L số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền phạt cọc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật về tống đạt văn bản tố tụng, đảm bảo tính khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước và tại phiên tòa. Đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Minh Cửu L về việc yêu cầu ông Võ Hoàng T trả lại cho ông L số tiền đặt cọc là 20.000.000 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Minh Cửu L về việc yêu cầu ông Võ Hoàng T trả lại cho ông L số tiền phạt cọc là 80.000.000 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Hoàng T trả lại cho ông L số tiền phạt cọc là 20.000.000 đồng.

Án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của ông Trần Minh Cửu L và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng dân sự - đặt cọc; ông Võ Hoàng T có địa chỉ tại xã T, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh Cửu L yêu cầu ông Võ Hoàng T trả cho ông số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000đồng và tiền phạt cọc là 80.000.000 đồng, tổng cộng là 100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ngày 27/12/2023, ông T xác định chỉ đồng ý trả cho ông L số tiền đặt cọc là 20.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền tiền phạt cọc.

- Xét tiền cọc: Hội đồng xét xử căn cứ biên nhận tiền đặt cọc ngày 25/10/2019 thể hiện nội dung: Ông Võ Hoàng T nhận tiền cọc của ông Trần Minh Cửu L để chuyển nhượng phần đất diện tích 150m², ngang 06m dài 25m, thửa 326, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại xã T, thành phố C, giá chuyển nhượng là 85.000.000 đồng, ông L đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông L và ông T thống nhất có giao nhận số tiền đặt cọc 20.000.000 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, ông T đồng ý trả cho ông L số tiền cọc 20.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

- Đối với tiền phạt cọc: Ông L cho rằng hai bên thỏa thuận phạt cọc 04 lần, biên nhận cũng thể hiện phạt cọc 04 lần, ông T cho rằng hai bên thỏa thuận phạt cọc 02 lần. Tại phiên tòa, ông T cho rằng trang 01 (mặt trước) của biên nhận có ghi “bồi thường gấp đôi cho bên mua” và chữ “đôi” sửa lại thành “04”, ông có ký tên vào trang 01 của biên nhận khi không có sửa. Riêng trang 02 có ghi “có sửa sai 04” ông hoàn toàn không biết và không có ký tên. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thỏa thuận và ký kết biên nhận tiền đặt cọc ngày 25/10/2019 là để đảm bảo việc giao kết giữa ông L với ông T, ông L đã cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là biên nhận tiền đặt cọc ngày 25/10/2019 có thể hiện nội dung phạt cọc 04 lần nếu bên bán không tiếp tục bán, ông T không đồng ý và cho rằng ông không có ký tên vào trang 02 của biên nhận nhưng ông T không yêu cầu giám định. Tuy nhiên, ông L có yêu cầu giám định, ông T cũng không đồng ý cung cấp chữ ký mẫu để giám định là ông đã từ chối cung cấp chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của ông là có căn cứ nên ông phải chịu hậu quả pháp lý của việc từ chối cung cấp chứng cứ.

Ngoài ra, biên nhận tiền đặt cọc ngày 25/10/2019 thể hiện nội dung “bên bán vì bất cứ lý do nào mà không bán thì phải bồi thường gấp 04 lần cho bên mua” nhưng không thể hiện giao cho bên nào làm thủ tục chuyển thổ, tách thửa, sang tên; ông L và ông T đều không chứng minh được việc thỏa thuận giao cho người nào làm thủ tục sang tên và đều trình bày là Nhà nước không cho tách thửa nhưng chỉ nói miệng, không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh lời trình bày của mình là có căn cứ, kể cả người làm chứng cũng không trình bày được cụ thể sự việc. Tại các phiên tòa, ông T trình bày việc thỏa thuận tách thửa, chuyển thổ, sang tên có lúc thì giao cho ông L, lúc giao cho ông K (bạn ông L), lúc cho rằng ông K chở ông đến một cửa trực tiếp nộp và nhận hồ sơ; điều này cho thấy lời trình bày của ông T trước sau không thống nhất nên không có căn cứ xem xét lời trình bày của ông tiến. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc yêu cầu ông T bồi thường tiền cọc gấp 04 lần, số tiền 80.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với lời cam kết tại biên nhận tiền đặt cọc ngày 25/10/2019 và phù hợp với khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự.

Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

[3] Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có một phần căn cứ như đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Về án phí: Ông T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại kho ản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 246, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 328, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Minh Cửu L yêu cầu ông Võ Hoàng T trả cho ông số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20.000.000đồng và tiền phạt cọc là 80.000.000 đồng.

Buộc ông Võ Hoàng T có trách nhiệm trả cho ông Trần M Cửu Long số tiền đặc cọc là 20.000.000 đồng và tiền phạt cọc là 80.000.000 đồng, tổng cộng là 100.000.000 đồng.

Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Hoàng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng.

Ông Trần Minh Cửu L được nhận tiền tạm ứng án phí là 2.500.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007065 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 - Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND TPCL;
  • - Chi cục THADS TPCL;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dân sự - đặt cọc

  • Số bản án: 164/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự - đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng dân sự - đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger