TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 164/2023/HSST Ngày: 25/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ
Ông Phạm Đình Đức
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến (với điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở TAND thị xã Quế Võ, và điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh) vụ án hình sự thụ lý số: 168/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1997.
HKTT: thôn Phú Vân, xã Đức Long, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Bính và bà Nguyễn Thị Thành; vợ, con: chưa có; tiền án, nhân thân: không;
Tiền sự: Ngày 30/3/2022 bị TAND huyện Quế Võ quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 03/4/2023.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2023 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
2. Trương Khắc N, sinh năm 1981.
HKTT: khu Khả Lễ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Khắc Thắng và bà Trịnh Thị Hảo; có vợ là Diêm Thị Vân và 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 05/01/2021 bị TAND thành phố Bắc Ninh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 24/3/2023.
Nhân thân:
- + Ngày 30/7/2015 bị TAND thành phố Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 24/8/2016.
- + Ngày 06/4/2018 bị Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc.
- + Ngày 07/4/2023 Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định tiếp nhận Trương Khắc N vào cai nghiện ma túy tự nguyện thời hạn 06 tháng.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Kim Sơn - Cán bộ tin học của TAND thị xã Quế Võ. Có mặt.
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H và Trương Khắc N quen biết nhau khi cùng là học viên tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Bắc Ninh. Ngày 03/4/2023, H chấp hành xong việc cai nghiện bắt buộc, còn N vẫn thực hiện cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Bắc Ninh. Quá trình cai nghiện, N đã giấu 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen để lén lút sử dụng. Khoảng 19 giờ ngày 19/4/2023, N có nhu cầu sử dụng ma tuý nên đã gọi điện thoại cho H để gửi 1.500.000 đồng tiền nhờ H mua ma tuý Heroine (N bảo H mua khoảng 700.000 đồng, số tiền còn thừa là tiền công của H), H đồng ý. Sau đó, H đi đến nhà chị Nguyễn Thị Trang (là bạn quen biết ngoài xã hội với H) xin số tài khoản ngân hàng Agribank của chị Trang, đồng thời nhắn tin cho N số tài khoản trên để N gửi tiền vào đó, rồi H sẽ nhờ chị Trang đưa tiền mặt. Khi nhận được tin nhắn của H, N gọi điện cho vợ là chị Diêm Thị Vân bảo chị Vân chuyển cho N 1.500.000 đồng tiền ăn vào số tài khoản trên. Sau khi chị Vân chuyển tiền N gọi điện báo cho H là đã chuyển tiền rồi, nhưng do chị Trang không có đủ tiền mặt nên hẹn H sáng hôm sau qua lấy. Sau đó, H gọi điện thoại cho Trần Thế Hoằng hỏi mua ma tuý. Hoằng đồng ý và hẹn H sáng hôm sau lên gặp. Khoảng 8 giờ ngày 20/4/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 99E1-100.58 đến nhà chị Trang lấy 1.500.000 đồng, rồi đi lên khu vực ngã 6, thành phố Bắc Ninh để đón Hoằng. Hoằng bảo H chở đến khu vực phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh. Tại đây, H đưa cho Hoằng 700.000 đồng, Hoằng cầm tiền đi một lúc sau quay lại đưa cho H 02 gói giấy bạc màu trắng đồng thời bảo H mua cho 01 thẻ nạp tiền điện thoại 50.000 đồng. Biết đó là ma tuý, H cầm lấy cất vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe đi về khu vực Cơ sở cai nghiện tỉnh Bắc Ninh. Khi đi gần đến nơi, H gọi cho N nói “Khoảng 1 tiếng nữa em ném hàng vào cho, em cho vào trong ống nứa”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H đi vào khu vực nghĩa trang thôn Thành Dền, xã Đào Viên để ném ma tuý vào Cơ sở cai nghiện cho N thì bị tổ công tác Công an xã Đào Viên kiểm tra, lập biên bản phạm tội quả tang đối với H và thu giữ tại túi quần dài phía trước bên phải của H 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 923/KL-KTHS ngày 21/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1673 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Deiacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 133/CT-VKSQV ngày 04/8/2023 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Văn H và Trương Khắc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Nguyễn Văn H và Trương Khắc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với N); Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Nguyễn Văn H từ 15-18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2023.
+ Xử phạt Trương Khắc N từ 18-24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với H và N.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; 01 sim điện thoại số 0397.282.xxx của H; 01 sim số 0866.854.493 của N.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 và số tiền 610.000 đồng của H; 01 điện thoại Nokia 1280 của N.
- + Truy thu của H 140.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
- - Về án phí: H và N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKSND thị xã Quế Võ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tối ngày 19/4/2023 Trương Khắc N đã chuyển cho Nguyễn Văn H số tiền 1.500.000 đồng để nhờ H mua giúp ma túy. Đến sáng ngày 20/4/2023 sau khi mua được ma túy H mang về để đưa cho N, khi đi đến khu vực thôn Thành Dền, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ thì bị Công an xã Đào Viên kiểm tra bắt quả tang và thu giữ tại túi quần dài phía trước bên phải của H 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa 0,1673 gam ma túy Heroine. Do đó, hành vi của H và N đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố.
[3] Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công phân nhiệm cụ thể. Trong đó N có vai trò chính, là đối tượng đã nhờ H mua giúp ma túy để sử dụng cho bản thân, còn H có vai trò giúp sức cho N. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bản thân H và N đều là những đối tượng đã nghiện ma túy nhiều năm nay và đã được đưa đi cai nghiện, nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Nên phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly H và N khỏi xã hội một thời gian tương xứng với vai trò của mỗi bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên, H và N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, N còn tự nguyện ra đầu thú nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho H và N để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do H và N là những đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[5] Về vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 sim điện thoại số 0397.282.xxx của H; 01 sim số 0866.854.493 của N các bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 và điện thoại Nokia 1280 là phương tiện mà H và N dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 610.000 đồng thu của H là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 140.000 đồng H được N trả công để đi mua ma túy, do H đã chi tiêu cho bản thân nên cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền này.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 99E1-100.58, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn Bính (là bố của H). Ông Bính cho H mượn chiếc xe trên để đi làm và không biết H sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại chiếc xe trên cho ông Bính là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo H và N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với đối tượng Trần Thế Hoằng là người mua ma tuý hộ H. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã tiến hành triệu tập nhưng Hoằng đang vắng mặt tại địa phương. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã nhiều lần gửi công văn đề nghị Tập đoàn VIETTEL tra cứu thông tin chủ thuê bao của số điện thoại 0867.815.xxx mà H khai là Hoằng sử dụng, nhưng chưa nhận được công văn phúc đáp. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã ra quyết định tách hành vi của Hoằng, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chị Diêm Thị Vân không biết việc N nhờ chuyển tiền để mua ma túy, và chị Nguyễn Thị Trang không biết việc H nhờ đổi tiền mặt để đi mua ma túy, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Nguyễn Văn H và Trương Khắc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với N); Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Xử phạt Trương Khắc N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2023.
- + Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2023.
Quyết định tạm giam H và N mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; 01 sim điện thoại số 0397.282.xxx của H; 01 sim số 0866.854.493 của N.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 và số tiền 610.000 đồng của H; 01 điện thoại Nokia 1280 của N.
Các vật chứng trên theo Biên bản bàn giao vật chứng số 137 ngày 02/8/2023 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục THADS thị xã Quế Võ.
- + Truy thu của H 140.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: H và N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Minh Đức |
Bản án số 164/2023/HSST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 164/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
