TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 4 - 2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Tấn Phước và ông Trương Văn Hăng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HN, ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1985; cư trú: Tổ G, ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M năm 1982; cư trú: Tổ B, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông M tự tìm hiểu yêu thương, được cha mẹ hai bên đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Ngoài ra, ông M hay uống rượu rồi chửi mắng bà vô cớ, không phụ giúp vợ chăm sóc gia đình cho đến năm 2022 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên bà và ông M ly thân từ khoảng tháng 9/2022 cho đến nay.
Trong thời gian ly thân, ông M tới lui hàn gắn, cũng không thăm nôm vợ con. Gia đình hai bên cũng biết nhưng do đã lớn tuổi nên để cho con cái tự quyết định. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể tiếp tục sống chung, tình cảm của bà giành cho ông M còn nên bà H cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.
Về con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 04/5/2021. Hiện cháu V sống với bà H được bà H nuôi dạy. Sau khi ly hôn, bà H cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu V, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Văn M trình bày tại biên bản ghi lời khai: Ông thống nhất với bà H thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân, thời gian kết hôn. Trong thời gian chung sống, vợ chồng ông và bà H xảy ra mâu thuẫn và cũng không cãi nhau nhưng đã không sống chung từ năm 2022 cho đến nay do bà H đưa con về thăm ngoại rồi không chịu trở về. Trong thời gian ly thân, ông có gọi điện hỏi thăm vợ con nhưng đều không gọi được, gia đình cha mẹ hai bên cũng lớn tuổi nên không có ý kiến. Bà H cầu ly hôn ông không đồng ý do ông vẫn còn thương vợ con, vẫn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H
Về con chung: Ông thống nhất với bà H trong thời gian chung sống có một con chung, họ tên năm sinh đúng như lời bà H bày, hiện do bà H dạy. Nếu bà H quyết ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông xin không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông M vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.
Biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 26/3/2024, người thân bà H cung cấp: Bà H và ông M do tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân vào năm 2020. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do ông M chịu làm ăn để chăm lo cho gia đình, suốt ngày ăn chơi uống rượu rồi kiếm chuyện chửi mắng, đuổi bà H khỏi nhà. Sau khi bà H chuyển về nhà bà sinh sống thì ông M một lần tới lui thăm con, không hỏi han hay quan tâm. Vợ chồng bà H ông M đã ly thân từ năm 2022. Theo bà nhận thấy là không thể đoàn tụ, bởi hiện tại ông M thay đổi tính tình, cũng không có ý định hàn gắn tình cảm với bà H. Bà H ông M một con chung và hiện đang sống cùng với bà H Về tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Tại phiên toà: Bà H và ông M vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của bà H, ông M có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Con chung hiện còn nhỏ và đang sống cùng bà H. Bên cạnh đó, ông M đồng ý để bà H tiếp tục nuôi dưỡng con chung nếu bà H quyết ly hôn, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của các cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con chung cho bà H được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện cùa bà H về việc không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự xác định không có, không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn M. Ông M cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà H ông M mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông M theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông M do tự tìm hiểu yêu thương tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 27/10/2020 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông M, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H, ông M phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Ông M cho rằng còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông M vắng mặt cho thấy thiện chí hàn gắn tình cảm với bà H là không có, còn bà H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, bà không còn tình cảm và cương quyết xin ly hôn. Lời trình bày của bà H hợp với nội dung biên bản xác minh mâu thuẫn tình cảm giữa bà H, ông M nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 04/5/2021. Bà H cầu được tiếp tục nuôi cháu V, ông M ý. Hội đồng xét xử, xét thấy, cháu V đủ 03 tuổi và đang sống cùng bà H. Do đó, để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên cần giao cháu V bà H tiếp tục nuôi dạy là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H .
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc T V sinh ngày 04/5/2021.
Công nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông M cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà H. Ngược lại bà H và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà bà H nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009240 ngày 04/3/2024.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sang |
Bản án số 164/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà H - ông M
