Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024 /HS-ST

Ngày 24 -7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Anh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Hương Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh và ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149 /2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên:Cao Quốc V, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1984 tại Quảng Ninh; nơi ĐKTT cư trú: tổ E, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: tổ G, khu I, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Cao Anh N và con bà Lã Thị H; có vợ là Vũ Thị N1 và có 01 con, sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không;

Nhân thân: ngày 13/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2016 và chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 05/8/2015.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 27/01/2024, tạm giam từ ngày 05/02/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

2. Họ và tên: Phạm Văn T1, sinh ngày 30 tháng 6 năm 1967 tại Thanh Hoá ; nơi cư trú: tổ H, khu D, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Phạm Văn X và con bà Trương Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Hồng H1 và có 01 con, sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân: ngày 20/12/1999, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2005. Chấp hành xong phần thi hành án dân sự ngày 10/10/2018.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 28/01/2024, tạm giam từ ngày 06/02/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

3. Họ và tên: Tạ Tuấn H2, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1981 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Tạ Trung H3 và con bà Mai Thúy M; có vợ là Nguyễn Thị H4 và có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án; không; tiền sự: không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 28/01/2024, tạm giam từ ngày 06/02/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm: 1971; nơi ĐKTT cư trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: tổ C, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Tiến H5, sinh năm: 1995; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Nguyễn Đức B, ông Trương Mậu G, anh Nguyễn Văn C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Quốc VPhạm Văn T1 có quen biết nhau, V biết Thân có ma túy bán nên nhiều lần V mua ma túy của T1 và người không quen biết về bán, V thống nhất với Tạ Tuấn H2 cùng tham gia bán ma túy. Từ giữa tháng 01/2024 đến ngày 27/01/2024, tại địa bàn thành phố H, Phạm Văn T1, Cao Quốc VTạ Tuấn H2 nhiều lần có hành vi bán trái phép chất ma túy, cụ thể:

1. Hành vi Phạm Văn T1 bán trái phép ma túy cho Cao Quốc V.

  • - Lần thứ nhất: Sáng ngày 25/01/2024, tại khu vực Bệnh viện L, Phạm Văn T1 bán cho Cao Quốc V 02 chỉ ma túy loại Heroine, với giá 10.000.000 đồng. V trả cho T1 5.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 5.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của V đến tài khoản ngân hàng của T1.
  • - Lần thứ hai: Sáng ngày 27/01/2024, cũng tại địa điểm trên, Phạm Văn T1 bán ma túy cho Cao Quốc V 02 chỉ ma túy loại Heroine, với giá 10.000.000 đồng. V trả cho T1 5.000.000 đồng tiền mặt và 5.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của V đến tài khoản ngân hàng của T1.

2. Hành vi Cao Quốc V bán trái phép chất ma túy.

  • - Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/01/2024, tại khu vực ngõ C, đường B, phường C, thành phố H, V bán cho Nguyễn Tiến H5 (sinh năm 1995, trú tại tổ A, khu B, phường H, thành phố H) 01 gói ma túy loại Heroine với giá 500.000 đồng.
  • - Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 26/01/2024, tại khu vực đầu ngõ B, đường C, phường C, thành phố H, V bán cho Nguyễn Tiến H5 02 gói ma túy loại Heroine với giá 970.000 đồng thông qua tài khoản của V và H5.
  • - Lần thứ ba: Tối ngày 26/01/2024, tại khu vực cổng chào L, V bán cho Nguyễn Văn K (sinh năm 1971, trú tại tổ A, khu B, phường C, thành phố H) 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng.
  • - Lần thứ tư: Khoảng 13 giờ ngày 27/01/2024, tại phòng trọ của V thuộc tổ G, khu I, phường C, thành phố H, V bán cho Nguyễn Tiến H5 01 gói Heroine với giá 470.000 đồng.

3. Hành vi Cao Quốc V và Tạ Tuấn H2 cùng bán trái phép chất ma túy.

  • - Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/01/2024, Nguyễn Tiến H5 gọi điện cho V hỏi mua 01 gói Heroine, V hẹn giao dịch mua bán ma túy tại ngõ A đường B, phường C, thành phố H, Nguyễn Tiến H5 chuyển khoản qua ngân hàng của V số tiền 480.000 đồng, V đưa Tạ Tuấn H2 01 gói Heroine và bảo đem bán cho Nguyễn Tiến H5 như địa điểm đã hẹn.
  • - Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, Nguyễn Tiến H5 gọi điện cho V hỏi mua 01 gói Heroine, V hẹn giao dịch tại địa điểm cũ, Nguyễn Tiến H5 chuyển khoản qua ngân hàng của V số tiền 480.000 đồng, V lại đưa ma túy cho Tạ Tuấn H2 để bán cho Nguyễn Tiến H5 như lần trước.
  • - Lần thứ ba: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 25/01/2024, Nguyễn Tiến H5 tiếp tục gọi điện cho V hỏi mua 01 gói Heroine, V hẹn đến địa điểm cũ để giao dịch, Nguyễn Tiến H5 chuyển khoản cho V số tiền 480.000 đồng. Sau đó, V đưa cho Tạ Tuấn H2 01 gói Heroine và bảo mang đến điểm hẹn bán cho Nguyễn Tiến H5.
  • - Lần thứ tư: Sáng ngày 26/01/2024, Nguyễn Văn K gọi điện thoại cho Tạ Tuấn H2 hỏi mua 01 gói Heroine, H2 đồng ý và hẹn K đến ngõ C, đường B, phường C, thành phố H để giao dịch. Sau đó, Tạ Tuấn H2 nói việc K hỏi mua ma túy thì V đồng ý rồi đưa cho H2 01 gói Heroine đến điểm hẹn giao cho K và nhận số tiền 300.000 đồng về đưa cho V.
  • - Lần thứ năm: Khoảng 10 giờ ngày 27/01/2024, Nguyễn Văn K gọi điện thoại cho Tạ Tuấn H2 hỏi mua 01 gói Heroine, H2 hẹn gặp ở khu vực nghĩa trang Đ, phường H để giao dịch. Sau đó, H2 nói với V việc K mua ma túy thì V đồng ý rồi đưa cho H2 01 gói Heroine đến điểm hẹn bán cho K với giá 300.000 đồng, rồi mang tiền về đưa cho V.

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, Công an thành phố H kiểm tra nơi ở của Cao Quốc V thuộc tổ G, khu I, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện, bắt quả tang V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng: thu giữ trên miếng xốp trên kệ bếp 02 gói giấy bạc bên trong đều chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) và 01 đoạn ống hút được cắt vát một đầu; thu trong hộp giấy trên kệ bếp 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M3) và 10 mảnh giấy bạc; thu trong hộp giấy hình vuông trên kệ bếp 02 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4, M5), 01 túi nilon bên trong có 07 viên nén màu đỏ và 01 cục chất bột màu đỏ (ký hiệu M6), 01 viên nén màu xanh (ký hiệu M7), 01 đoạn ống hút nhựa và 01 dao lam; thu trong hộp giấy hình chữ nhật trên kệ bếp có 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục (ký hiệu M8); thu trên bóng đèn đầu giường ngủ 01 hộp nhựa bên trong có 07 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M9-M15); thu trong vỏ bao thuốc lá trên kệ bếp 01 cân điện tử; thu trên kệ bếp 10 vỏ túi nilon; thu trên mặt bàn số tiền 470.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone, 01 điện thoại OPPO.

Ngày 27/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn T1 thu giữ của Thân 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng. Ngày 28/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối của T1 tại tổ H, khu D, phường G, thành phố H, thu giữ số tiền 12.900.000 đồng.

Ngày 28/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Tạ Tuấn H2 tại tổ A, khu C, phường H, thành phố H thu giữ của H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng.

Tại kết luận giám định số 224/KLGĐ, ngày 03/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, từ M8 đến M15 thu giữ của Cao Quốc V gửi giám định là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 4,263 gam; Mẫu vật ký hiệu M4, M5, M6 thu giữ của Cao Quốc V gửi giám định ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng là 2,6 gam. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu vật ký hiệu M7 gửi giám định.

Quá trình điều tra, các bị cáo Cao Quốc V, Tạ Tuấn H2, Phạm Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 1963/CT – VKSHL ngày 12/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Cao Quốc V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Văn T1, Tạ Tuấn H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung tóm tắt vụ đã nêu và thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố đúng người, đúng tội. Ngoài ra, bị cáo Cao Quốc V trình bày chiếc điện thoại Iphone bị thu giữ trong quá trình điều tra, bị cáo chỉ sử dụng liên hệ với gia đình nhưng khi mới bị bắt giữ do hoảng sợ nên bị cáo đã khai cũng sử dụng vào việc mua bán ma tuý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Tiến H5 vắng mặt tại phiên toà, trong hồ sơ có lời khai thừa nhận nhiều lần mua ma tuý của Tạ Tuấn H2Cao Quốc V để về sử dụng. Trong điện thoại của anh K, có lưu số điện thoại của bị cáo Tạ Tuấn H2, trong điện thoại của anh Nguyễn Tiến H5 có lưu số điện thoại của bị cáo Cao Quốc V để thực hiện việc trao đổi mua bán ma tuý (tại các bút lục 252-255, 268-278).

Người làm chứng ông Nguyễn Đức B, ông Trương Mậu G vắng mặt tại phiên toà, trong hồ sơ có lời khai thể hiện: chiều ngày 27/01/2014 khi cơ quan công an đến khám xét phòng trọ của Cao Quốc V, hai ông đã chứng kiến V cất giấu tinh thể màu trắng (ma tuý) ngay tại trong phòng trọ và cơ quan công an đã tiến hành thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan (bút lục từ 239- 248).

Người làm chứng anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên toà trong hồ sơ có lời khai thể hiện vào sáng ngày 25/01/2024 và sáng ngày 27/01/2024, bị cáo Phạm Văn T1 có nhờ anh C chở đến Bệnh viện L để tiêm và uống thuốc, anh C ngồi ngoài đợi, còn T1 vào trong làm gì anh C không biết, không liên quan đến việc T1 bán ma tuý (tại các bút lục 292- 295).

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về hình phạt chính:

Áp dụng: điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Cao Quốc V từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù từ ngày bị tạm giữ 27/01/2024.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T1 từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù từ ngày bị tạm giữ 28/01/2024.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Tạ Tuấn H2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù từ ngày bị tạm giữ 28/01/2024.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: áp dụng các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 3,72gam H và 2,21gam Methamphetamine và 0,04gam không phải ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 miếng xốp, 03 hộp giấy, 01 hộp nhựa, 02 ống hút nhựa, 01 cân điện tử mini, 01 dao lam, 10 mảnh giấy, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba, 01 sim kèm theo điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus), 02 sim kèm theo điện thoại OPPO, 01 sim kèm theo điện R.
  • + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO (thu giữ của Cao Quốc V), 01 điện thoại Readmi (thu giữ của Tạ Tuấn H2), 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus) thu giữ của Phạm Văn T1.
  • +Trả lại: bị cáo Cao Quốc V 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 6 Plus) kèm theo 01 sim, bị cáo Phạm Văn T1 12.900.000đồng.
  • + Trả lại: anh Nguyễn Tiến H5 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia kèm theo 01 sim điện thoại, anh Nguyễn Văn K 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia kèm theo 01 sim điện thoại.

+ Truy thu của bị cáo Phạm Văn T1 20.000.000đồng, của bị cáo Cao Quốc V 4.280.000đồng, trừ đi 470.000.000đồng đã thu giữ được của bị cáo Cao Quốc V.

Các bị cáo không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

2.1 Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, biên bản sơ đồ, bản ảnh xác định hiện trường, biên bản kiểm tra điện thoại, vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định và cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ kết luận:

Từ ngày 21/01/2024 đến ngày 27/01/2024, tại địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Cao Quốc VTạ Tuấn H2 cùng có hành vi 05 lần bán trái phép chất ma túy, trong đó bán cho Nguyễn Tuấn H6 03 lần thu được số tiền 1.440.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn K 02 lần thu được số tiền 600.000đồng. Cao Quốc V có hành vi 04 lần bán trái phép chất ma túy, trong đó bán cho Nguyễn Tiến H5 03 lần thu được số tiền 1.940.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn K 01 lần thu được số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, Cao Quốc V còn có hành vi tàng trữ 4,263 gam ma túy, loại Heroine và 2,6 gam ma túy, loại Methamphetamine tại nơi ở thuộc 78, khu I, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, mục đích để bán.

Trong các ngày 25/01/2024 và 27/01/2024, tại khu vực cổng Bệnh viện L, phường C, Phạm Văn T1 đã có hành vi bán cho Cao Quốc V 02 lần ma túy với tổng số tiền là 20.000.000đồng.

Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy là khách thể được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo Cao Quốc V đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Văn T1Tạ Tuấn H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo theo như Bản cáo trạng số 1963/CT – VKSHL ngày 12/6/2024 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

- 2.2.Về hình phạt:

Về hình phạt chính:

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, việc mua bán ma tuý diễn ra nhiều lần. Tại thời điểm thực hiện hành vi mua bán ma tuý các bị cáo đang là bệnh nhân tại Khoa tư vấn và điều trị nghiện chất tại Trung tâm y tế thành phố H nhưng các bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý, kết nối với các đối tượng nghiện ma tuý khác để thực hiện hành vi mua đi bán lại với mục đích kiếm lời bất chất chính. Hành vi phạm tội của các bị cáo, không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến cơ sở điều trị nghiện chất và là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.

Đánh giá về vai trò đồng phạm: hành vi bán ma tuý của bị cáo Cao Quốc VTạ Tuấn H2 có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể; độc lập với hành vi mua bán ma tuý của bị cáo Phạm Văn T1. Trong đó, V là người khởi xướng, đề xuất với Tạ Tuấn H2 về việc bán ma tuý giúp V và V trả công bằng cách cho Tạ Tuấn H2 ma tuý để sử dụng. Do đó, xác định V giữ vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao hơn Tạ Tuấn H2 là người giúp sức, có vai trò thứ yếu.

- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là những người nghiện ma tuý không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T1 có bố là liệt sĩ, có bà nội là Mẹ Việt Nam anh hùng nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Cao Quốc V bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[4] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Tịch thu, tiêu hủy đối với vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, vật chứng không còn giá trị sử dụng bao gồm: 3,72gam Heroin và 2,21gam Methamphetamine và 0,04gam không phải ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 miếng xốp, 03 hộp giấy, 01 hộp nhựa, 02 ống hút nhựa, 01 cân điện tử mini, 01 dao lam, 10 mảnh giấy, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba, 01 sim kèm theo điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus), 02 sim kèm theo điện thoại OPPO, 01 sim kèm theo điện R.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO (thu giữ của Cao Quốc V), 01 điện thoại Readmi (thu giữ của Tạ Tuấn H2) 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus, thu giữ của Phạm Văn T1).

- Đối với số tiền 470.000đồng thu giữ của bị cáo Cao Quốc V là tiền bị cáo thu lợi bất chính mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus) thu giữ của bị cáo Cao Quốc V, quá trình điều tra không chứng minh được bị cáo sử dụng để giao dịch mua bán ma tuý trong vụ án, bị cáo khai nhận chỉ sử dụng liên hệ với gia đình. Do đó, tài sản này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo nên trả lại bị cáo.

- Đối với số tiền 12.900.000đồng thu giữ của bị cáo Phạm Văn T1 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo.

- Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Tiến H5 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia kèm theo 01 sim điện thoại; anh Nguyễn Văn K 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia kèm theo 01 sim điện thoại.

[5] Về áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tổng số tiền mà bị cáo Cao Quốc V đã có được từ những lần bán ma tuý trong vụ án này là 4.280.000đồng, xác định là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối trừ số tiền thu lời bất chính 470.000đồng cơ quan điều tra đã thu giữ được, bị cáo còn phải tiếp tục nộp số tiền 3.810.000đồng, sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 20.000.000 đồng mà bị cáo Phạm Văn T1 có được từ việc mua bán ma tuý là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về người có hành vi liên quan trong vụ án: đối với người đàn ông tên H7 và người đàn ông bán ma túy cho T1V, quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Nguyễn Văn C là người chở bị cáo T1 đi bán ma túy, nhưng không biết việc T1 mua bán ma túy nên không đề cập xử lý. Đối với Nguyễn Tiến H5, Nguyễn Văn K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Cao Quốc V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Cao Quốc V 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/01/2024.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T1 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/01/2024.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Tạ Tuấn H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Tạ Tuấn H2 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/01/2024.

- Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a, b, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 3,72gam Heroine; 2,21gam Methamphetamine; 0,04gam không phải ma tuý, mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 224 ngày 12/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, 01 (một) miếng xốp, 03 (ba) hộp giấy, 01(một) hộp nhựa, 02(hai) ống hút nhựa, 01 (một) cân điện tử mini, 01(một) dao lam, 10 (mười) mảnh giấy, 01(một) vỏ túi nilon, 01(một) vỏ bao thuốc lá Vinataba, 01(một) sim kèm theo điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus), 02 (hai) sim kèm theo điện thoại OPPO, 01 (một) sim kèm theo điện thoại Readmi.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, 01 (một) điện thoại Readmi, 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus) và số tiền 470.000đ (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Cao Quốc V.

Trả lại bị cáo Cao Quốc V 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7 Plus) và trả lại bị cáo Phạm Văn T1 số tiền 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm nghìn đồng).

Trả lại anh Nguyễn Tiến H5 01(một) điện thoại nhãn hiệu Nokia kèm theo 01 sim điện thoại và trả lại anh Nguyễn Văn K 01(một) điện thoại nhãn hiệu Nokia kèm theo 01 sim điện thoại.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Phiếu nhập kho ngày 22/02/2024 và Biên bản giao nhận tài sản ngày 22/02/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố H và Kho bạc Nhà nước tỉnh Q)

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 và điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.810.000đ (ba triệu tám trăm mười nghìn đồng) đối với bị cáo Cao Quốc V.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đối với bị cáo Phạm Văn T1.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV LQ;
  • - VKSND, CA Tp. Hạ Long;
  • - Chi cục THADS Tp.Hạ Long;
  • - Cơ quan THAHS CA Tp.Hạ Long;
  • - Trạm tạm giam CA tỉnh QN;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Cao Quốc V cùng đồng phạm, mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger