TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 164/2024/DS-ST
Ngày: 24/6/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Huế
- Bà Trần Thị Ngọc Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 301/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở chính: Lầu 8, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Trần Gia T, sinh năm: 1971 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Lầu D - B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Là người đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số: 2192/2023/UQ-TGĐ ngày 17/7/2023).
- Bị đơn: Ông Tạ Minh T1, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: A đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/02/2020, Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Tạ Minh T1 ký kết với nhau Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào đề nghị của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông T1 Thẻ Visa, số thẻ 472074-3222, hạn mức 55.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2.6%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 178.766.425 đồng. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng thẻ, ông T1 mới thanh toán cho Ngân hàng được 161.687.805 đồng. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/8/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông T1 và chuyển toàn bộ số nợ của ông T1 sang nợ quá hạn. Sau đó, Ngân hàng thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện đối với ông T1, yêu cầu ông T1 phải trả cho Ngân hàng khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/6/2024) là 119.606.229 đồng gồm: Nợ gốc 63.837.621 đồng, nợ lãi quá hạn là 55.768.608 đồng. Ngoài ra, ông T1 phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng kể từ ngày 25/6/2024 trên tổng số tiền mà ông T1 có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2020.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Tạ Minh T1 đều vắng mặt nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn ông Tạ Minh T1 trả nợ thông qua giao dịch cấp thẻ tín dụng, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Tạ Minh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng ông T1 không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác, ông T1 vắng mặt tại phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn ông T1 vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét Giấy ủy quyền số: 2192/2023/UQ-TGĐ ngày 17/7/2023 của ông Lê Ngọc T2 ủy quyền cho ông Trần Gia T tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xét yêu cầu về tiền gốc: Xét thấy sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Tạ Minh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 178.766.425 đồng. Tuy nhiên, ông T1 không thanh toán đầy đủ nợ gốc cho Ngân hàng. Căn cứ vào Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng TMCP S cung cấp cho thấy tại thời điểm xét xử, ông Tạ Minh T1 còn khoản nợ gốc với Ngân hàng là 63.837.621 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Tạ Minh T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 63.837.621 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu về tiền lãi: Xét thấy, trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Tạ Minh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/8/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông T1 và chuyển toàn bộ số nợ của ông T1 sang nợ quá hạn. Xét mức lãi suất mà Ngân hàng áp dụng với ông T1 là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu tính lãi của Ngân hàng đối với ông T1 là có căn cứ. Theo bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp cho thấy tại thời điểm xét xử, ông Tạ Minh T1 còn khoản nợ lãi quá hạn với Ngân hàng là 55.768.608 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Tạ Minh T1 phải trả cho Ngân hàng khoản tiền lãi quá hạn là 55.768.608 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Tạ Minh T1 phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 463, Điều 465 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Tạ Minh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 119.606.229 đồng (một trăm mười chín triệu, sáu trăm linh sáu nghìn, hai trăm hai mươi chín đồng) gồm: Nợ gốc 63.837.621 đồng (sáu mươi ba triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi mốt đồng), nợ lãi quá hạn là 55.768.608 đồng (năm mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm linh tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2020.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Tạ Minh T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.980.311 đồng (năm triệu, chín trăm tám mươi nghìn, ba trăm mười một đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.264.002 đồng (hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, không trăm lẻ hai đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0035399 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bị đơn ông Tạ Minh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà
Trịnh Xuân Hương
Bản án số 164/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 164/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng SGT tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Tạ Minh T
