|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ***** |
|
Bản án số 164/2024/HSST Ngày: 23/7/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN |
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Quang Đạt
- Bà Phạm Tố Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 25/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 09/7/2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1991; HKTT: Tổ A, phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi ở: Số A N, phường C, quận N, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Phạm Thị L; có vợ là Trương Thị H và 01 con
Là Đảng viên dự bị Đ. Ngày 10/9/2015, Ban thường vụ huyện K, Ninh Bình có Quyết định số 43-QĐ/HU xoá tên Đảng viên Lê Văn T theo quy định Điều lệ Đảng.
Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 28/7/2022, TAND quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt 7 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 127/2022/HSST. Nộp án phí HSST ngày 28/7/2022. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2022)
Nhân thân:
- Ngày 05/8/2014, TAND quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 298/2014/HSST. Nộp án phí HSST ngày 21/01/2015)
- Ngày 29/9/2015, TAND quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 9 tháng tù về tội Đánh bạc (Bản án số 213/2015/HSST. Nộp án phí HSST ngày 30/9/2015)
- Năm 2017, TAND huyện Kim Sơn, Ninh Bình ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 23/8/2019)
D chỉ bản số 129 lập ngày 20/03/2024 tại Công an quận T; bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024, tạm giam ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – C1 (Có mặt).
Người bị hại: Cháu Nguyễn Hà Mạnh T1, sinh năm 2007; HKTT: Số C ngách G T, phường K, quận Đ, Hà Nội; chỗ ở hiện nay: P404 nhà D7 tập thể T, T, Đ, Hà Nội (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979; HKTT: Số C ngách G T, phường K, quận Đ, Hà Nội; chỗ ở hiện nay: P404 nhà D7 tập thể T, T, Đ, Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài và không có nghề nghiệp ổn định, Lê Văn T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Khoảng 05 giờ 40 phút ngày 12/3/2024, T điều khiển xe mô tô Honda Wave A màu xanh, BKS 29Y3 – 701.62 đến gửi ở khu vực trường Đại học H4. Sau đó T sang đường phía đối diện và bắt xe buýt số 21 từ điểm chờ đối diện trường Đại học H4 đi hướng N, trên xe Trinh không trộm cắp được tài sản gì nên xuống xe tại điểm chờ xe buýt gần cổng trường Đại học N. Khoảng 6 giờ 45 phút cùng ngày, T lên xe buýt số 03 di chuyển từ Chùa B đi T. Lên xe, T thấy cháu Nguyễn Hà Mạnh T1 đứng tại dãy phía bên trái của xe và ở gần vị trí cửa xuống. Trinh để ý túi áo khoác ở phần ngang bụng bên phải của cháu T1 không đóng khóa, bên trong có chiếc điện thoại Iphone 11 màu xanh để sơ hở có thể trộm cắp được nên đã tiếp cận, đứng cạnh bên phải của cháu T1 chờ thời cơ. Khi xe buýt vào điểm chờ tại trước số E T, Đ, Hà Nội, lợi dụng lúc khách lên, xuống xe đông và nhộm nhoạm, có cơ hội trộm cắp tài sản nên T đã dùng tay trái móc túi, lấy trộm chiếc điện thoại này. Sau khi lấy trộm thành công, T đã chuyển điện thoại sang tay phải, cho chiếc điện thoại vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và xuống xe luôn để tránh bị phát hiện.
Tiếp đó, T đi bộ sang đường và đi ngược về phía đường T, tiếp tục bắt xe buýt số 02 tại điểm chờ trên đường T (đối diện Đại học Thủy Lợi) đi hướng N để về lấy chiếc xe mô tô đang gửi ở cổng trường Đại học H4. Trên xe, T thấy một nữ giới khoảng 20 đến 22 tuổi để một chiếc điện thoại di động dạng điện thoại cảm ứng smart phone (do lúc đó có đông người trên xe buýt và chỉ nhìn thoáng qua nên T không rõ nhãn hiệu là điện thoại gì) trong túi áo khoác phía bên phải, không kéo khóa nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. T đứng lại gần bên phải của người nữ giới này chờ cơ hội để trộm cắp tài sản. Sau đó, cũng bằng thủ đoạn cũ, lợi dụng lúc xe buýt vào điểm chờ trước số C N, Thanh Xuân T, T, Hà Nội, T dùng tay trái móc túi áo của người nữ giới trên lấy trộm chiếc điện thoại. Do muốn tẩu thoát để không bị phát hiện, T vẫn cầm chiếc điện thoại này trên tay trái và bước xuống xe thì nữ giới trên phát hiện ra, đuổi theo và hô hoán “trộm, trộm", T bỏ chạy vào ngõ C N được khoảng 20 mét thì bị anh Trịnh Thái D1 giữ lại. Người nữ giới trên chạy đến lấy lại chiếc điện thoại rồi bỏ đi ngay, anh D1 kiểm tra thấy trên người T còn 01 chiếc điện thoại màu xanh nghi là tài sản trộm cắp nên đã báo cơ quan công an đên làm việc.
Cơ quan Công an thu giữ của Lê Văn T:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, số Imei: 354004006557345 (máy cũ đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20FE, màu xanh đen, số seri: RF8W308FCWH, số Imei 1: 355728261732322, số Imei 2: 356203781732326 (máy cũ đã qua sử dụng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh BKS 29Y3 – 701.62, số khung: RLHJA393PY100403, số máy: JA70E0142251 (xe đã qua sử dụng);
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29000279 mang tên Ngô Đức H2;
- 01 ví giả da màu đen;
- 01 balo màu đen nhãn hiệu Adidas;
- 01 giấy bán xe của Đàm Văn H3 cho Nguyễn Bá T2;
- Số tiền 2.418.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá số 55 ngày 18/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong TTHS – UBND quận T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, dung lượng 128 GB, màu xanh (máy cũ đã qua sử dụng, đã thu giữ được) có giá trị thời điểm tháng 3/2024 là 5.000.000 đồng.
Vụ việc Lê Văn T có hành vi Trộm cắp tài sản của cháu Nguyễn Hà Mạnh T1 xảy ra tại điểm chờ xe buýt trước số E T, T, Đ, Hà Nội thuộc địa bàn quận Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T đã trao đổi đề nghị chuyển hồ sơ vụ án cùng đối tượng T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Tại văn bản phúc đáp ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ có ý kiến: Lê Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhiều nơi, tội phạm được thực hiện liên tiếp nhau về mặt thời gian, trong cùng một ngày, tội phạm bị phát hiện bắt giữ tại phường T, hiện Cơ quan điều tra Công an quận T đã khởi tố vụ án và đang tiếp tục điều tra mở rộng để xử lý theo quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 4 điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T tiếp tục điều tra xử lý vụ án theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên
Tại Cáo trạng số 136/CT-VKSTX ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Lê Văn Trinh về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn T từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo T 01 chiếc xe máy Honda Wave A màu xanh BKS 29Y3-701.62; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20 FE màu xanh đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29000279; 01 giấy bán xe; 01 chiếc ví da màu đen, 01 balo màu đen nhãn hiệu Adidas và số tiền 2.418.000 đồng đã thu giữ của bị cáo T.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 6 giờ 45 phút ngày 12/3/2024, tại trước số E T, T, Đ, Hà Nội, Lê Văn T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh của cháu Nguyễn Hà Mạnh T1 có trị giá 5.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh là chị Nguyễn Thị H1 (mẹ cháu T1). Chị H1 cho cháu T1 mượn để phục vụ việc học tập. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc điện thoại cho chị H1, chị H1 nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự. Do đó Toà không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh BKS 29Y3 – 701.62, số khung: RLHJA393PY100403, số máy: JA70E0142251, quá trình điều tra xác định, người đứng tên đăng ký chiếc xe mô tô nêu trên là anh Ngô Đức H2 (Sinh năm 1984; HKTT: Thôn H, xã S, Ứ, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh H2 khai: anh H2 mua chiếc xe trên vào khoảng tháng 11/2023. Đến cuối năm 2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên anh H2 đã cầm cố chiếc xe cho anh Đàm Văn H3 (Sinh năm 1973; HKTT: Tổ 3, P, H, Hà Nội) – là chủ cửa hàng cầm đồ tại Tổ C, P, H, Hà Nội trong thời hạn một tháng, thỏa thuận nếu quá thời gian trên anh H2 không đến chuộc lại xe thì anh H3 có quyền bán chiếc xe này. Do để quá thời hạn mà anh H2 không đến chuộc lại xe nên anh H2 khẳng định không còn quyền lợi gì đối với chiếc xe mô tô nêu trên.
Ngày 02/3/2024, Lê Văn T cùng anh Nguyễn Bá T2 (Sinh năm 2002; HKTT: Tổ 4 V, P, Hà Nội) tới cửa hàng của anh Đàm Văn H3 mua lại chiếc xe trên, việc mua bán có làm giấy bán xe viết tay từ anh H3 cho T2 với giá 18.000.000 đồng, có bàn giao xe cùng đăng ký xe mang tên Ngô Đức H2. Tại cơ quan điều tra, anh Nguyễn Bá T2 khai: anh T2 được T nhờ đứng tên hộ trên giấy mua bán xe máy, toàn bộ số tiền mua xe là của T. Chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 29Y3 – 701.62 cùng đăng ký xe được anh H3 bàn giao thẳng cho T. Anh T3 không sở hữu và sử dụng chiếc xe này. Anh T3 không có quyền lợi gì ở chiếc xe mô tô nêu trên. Tại cơ quan điều tra, lời khai của Lê Văn T về nguồn gốc chiếc xe phù hợp với lời khai của T3, tiền mua xe là tiền cá nhân của T do đi làm có được. Qua tra cứu, chiếc xe mô tô BKS 29Y3 – 701.62 không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật. Đây là tài sản không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo T (cùng đăng ký xe và giấy bán xe).
Đối với chiếc điện thoại di động Samsung S20FE, 01 chiếc ví da màu đen, 01 balo màu đen nhãn hiệu Adidas và số tiền 2.418.000, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.
[7] Đối với hành vi Trộm cắp tài sản (01 chiếc điện thoại chưa rõ đặc điểm) của Lê Văn T đối với 01 người nữ giới (chưa rõ nhân thân lai lịch) xảy ra trên tuyến xe buýt số 02 trước số C N, Thanh Xuân T, T, Hà Nội vào ngày 12/03/2024, Cơ quan điều tra đã đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm bị hại của vụ việc nhưng đến nay chưa có người nào đến trình báo, chưa xác định được đặc điểm, giá trị của tài sản trộm cắp nên chưa có căn cứ để xử lý đối với hành vi này của T. Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với vụ việc này để tiếp tục xác minh làm rõ.
[8] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt Lê Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo T các giấy tờ, tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S20FE, màu xanh đen, số seri: RF8W308FCWH, số Imei 1: 355728261732322, số Imei 2: 356203781732326; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh, biển kiểm soát 29Y3 – 701.62, số khung: RLHJA393PY100403, số máy: JA70E0142251; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29000279 mang tên Ngô Đức H2, biển kiểm soát 29Y3 – 701.62, số khung: RLHJA393PY100403, số máy: JA70E0142251; 01 (một) ví giả da màu đen; 01 (một) balo màu đen có in chữ Adidas; 01 (một) giấy bán xe của Đàm Văn H3 cho Nguyễn Bá T2 và số tiền 2.418.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân và Uỷ nhiệm chi ngày 8/7/2024 của Công an quận T).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội.; - VKSND TP Hà nội; - VKSND quận Thanh Xuân; - Công an quận Thanh Xuân; - THADS quận Thanh Xuân; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người người đại diện hợp pháp của người bị hại; - Lưu HS, VT. |
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 164/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP. HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 164/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
