TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 164/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/12/2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Minh
- Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 399/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 128/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh N, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Chị N1, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
Tại phiên tòa có mặt anh N, vắng mặt chị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh N trình bày.
Anh và chị N1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 03/01/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Hàm Chính. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, công việc của anh phải thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, nên cũng thường xuyên nhậu nhẹt nhưng anh vẫn lo cho vợ con, chị N1 không hiểu được điều này nên bực bội khiến cuộc sống vợ chồng nặng nề. chị N1 thường xuyên chửi bới, tức giận vô cớ khiến anh cảm thấy mình không được vợ tôn trọng. Lâu dần, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, anh và vợ không còn quan tâm nhau, không còn chăm sóc nhau, mạnh ai náy sống. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị N1.
Về con chung:
Anh và chị N1 có 01 con chung là cháu N2 sinh ngày 24/02/2013. Vì cháu Ngân là con gái nên anh muốn chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngân để cháu được phát triển toàn diện về tâm sinh lý, công việc kinh doanh của anh phải đi ra ngoài thường xuyên, không có điều kiện chăm sóc cháu đầy đủ.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Ngân mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung:
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị N1:
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị N1 đều vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của chị N1 về yêu cầu khởi kiện của anh N. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, anh N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn chị N1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn anh N khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về con chung với bị đơn chị N1. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở Thôn B, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn chị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh N và chị N1 tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 03/01/2009 Ủy ban nhân dân xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo anh N, quá trình vợ chồng chung sống, chị N1 thường xuyên chửi bới, tức giận anh vô cớ khiến anh cảm thấy không được chị N1 tôn trọng, chị còn ghen tuông làm cuộc sống vợ chồng ngột ngạt. Lâu dần, cả hai có khoản cách và tình cảm ngày càng phai nhạt. Đến nay, anh xác định cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau và thực hiện nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng chị N1 vắng mặt chứng tỏ chị N1 không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với anh N.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa anh N và chị N1 không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh N ly hôn với chị N1 là phù hợp với thực tế và đúng qui định của pháp luật.
Về con chung:
Khi ly hôn, anh N yêu cầu chị N1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu N2, sinh ngày 24/02/2013. Xét thấy, hiện nay cháu Ngân đang được chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Ngân cũng có nguyện vọng được chung sống với chị N1. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hiện tại của mẹ con chị N1 đang ổn định, được học hành và chăm sóc đầy đủ nên việc để chị N1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngân là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh N đề nghị cấp dưỡng nuôi cháu Ngân mỗi tháng 2.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện của anh N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung:
Anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị N1 không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- – Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- – Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- – Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N:
Về hôn nhân:
Anh N được ly hôn chị N1.
Về con chung:
Giao con chung tên N2, sinh ngày 24/02/2013 cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con N2, sinh ngày 24/02/2013 mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Về án phí:
Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0019779 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Anh N còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Anh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/12/2023). Chị N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thu Thúy |
Bản án số 164/2023/HNGĐ-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 164/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
