Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 164/2024/HSST

Ngày: 21/06/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DAN

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Phượng, ông Nguyễn Công Thắm

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Hưng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Phương T - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại Nhà văn hóa khối X, phường H, thành phố V, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/HSST ngày 30/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HS ngày 07/06/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức T1 – sinh ngày 27/01/1997; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: tổ dân phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Đức 12 – sinh năm 1974; Con bà: Lê Thị T3, sinh năm 1974; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án: ngày 25/08/2021 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt Nguyễn Đức T1 24(Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 18/01/2023; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/04/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N đến nay (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Sỹ H – Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 06/10/1999; Nơi sinh: tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: tổ dân phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Sỹ T4 – sinh năm 1976; Con bà: Đỗ Thị H1, sinh năm 1972; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Lê Thị S – sinh năm 2000; Con: có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/04/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ 55 phút, ngày 06/04/2024, Nguyễn Đức T1 gọi điện cho Nguyễn Sỹ H thông qua ứng dụng messenger và hỏi H có chung nhau mua ma túy sử dụng không thì H đồng ý. Cả T1Huỳnh thống n mỗi người góp 1.000.000đồng để mua ma túy; Huỳnh chuyển cho T1 số tiền 3.066.666đồng trong đó có 1.000.000đồng để mua ma túy, số tiền còn lại trả nợ cho T1. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày T1 liên lạc với 1 người thông qua ứng dụng telegram hỏi mua 2.000.000đồng hồng phiến. Sau khi mua được ma túy T1 đi xe khách vào V để gặp H. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T1H đang đi đến trước số nhà C, đường T thuộc phường L, thành phố V thì bị tổ tuần tra kiểm soát của Đại đội Cảnh sát cơ động Công an tỉnh N kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ bên trong cạp quần bên trái phía trước cạnh thắt lưng của T1 đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 20 viên nén dạng hình tròn màu hồng, đưa người và tang vật về trụ sở Công an lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 405/KTHS (Đ2-MT) ngày 12/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Đức T1Nguyễn Sỹ H gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 2,213 gam (Hai phẩy hai trăm mười ba gam);

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố V, tỉnh Nghệ An Nguyễn Đức T1, Nguyễn Sỹ H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 161/CT-VKS-TPV ngày 28/05/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Đức Trình, Nguyễn Sỹ Huỳnh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKS giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 BLHS xử phạt Nguyễn Đức T1 từ 30-33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Sỹ H từ 21 -24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam. Về hình phạt bổ sung: do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản để đảm bảo thi hành án nên miễn hình phạt bổ sung.

Về tang vật: đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo. Tịch thu 2 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có tranh luận gì với VKS, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 21 giờ ngày 06/04/2024, tại khu vực số nhà C, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đức T1, Nguyễn Sỹ H có hành vi tàng trữ trái phép 2,213 gam (Hai phẩy hai trăm mười ba gam) ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị tổ tuần tra kiểm soát của Đại đội Cảnh sát cơ động Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS mà VKS truy tố là đúng người đúng tội.

[3]. Về tính chất vụ án: vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn ngang nhiên cất giữ ma túy. Vì vậy đối với các bị cáo cần xử phạt nghiêm. Việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Xét vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T1 là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp mua ma túy, bản thân bị cáo đã có 1 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đối với bị cần lên mức án nghiêm hơn bị cáo H. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo do quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải;

Đối với Nguyễn Sỹ H phạm tội với vai trò đồng phạm, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo 2,213 gam ma túy Methamphetamine. Xét đây là chất cấm lưu hành, cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone Promax 12 màu xanh thu giữ của bị cáo H và 01 chiếc điện thoại Iphone XS vỏ màu vàng thi giữ của bị cáo T1. Xét đây là các phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 07/04/2024.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ H 21 ( Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 07/04/2024.
  • - Về tang vật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 1,653gam Methamphetamine (Khối lượng ma túy còn lại sau khi trừ khối lượng lấy mẫu giám định) được niêm phong bằng bì thư niêm phong dán kín thu giữ vật chứng của Nguyễn Đức T1, Nguyễn Sỹ H; Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone Promax 12 màu xanh thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ H và 01 chiếc điện thoại Iphone XS vỏ màu vàng thi giữ của bị cáo Nguyễn Đức T1. Số vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK2024/184 ngày 30/05/2024.
  • - Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Đức T1, Nguyễn Sỹ H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

Nơi nhận:

- VKSNDTP Vinh;

- VKSND Tỉnh NA;

- Chi cục THADS TP Vinh;

- Công an TP Vinh;

- TAND tỉnh Nghệ An;

- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An

- Bị cáo; Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 164/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nghiện ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger