trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/DS-ST

Ngày 21-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Sơn.

Ông Phạm Ngọc Nguyên.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 203/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (E).

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng H, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Ngọc T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L, theo Giấy ủy quyền số 04/2023/EIBAG/UQ, ngày 02/01/2024 (có mặt).

Địa chỉ: Số D, đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn:

+ Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

+ Ông Lê Văn D, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP X1 đại diện ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

1. Ký kết Hợp đồng tín dụng

Ngân hàng TMCP X1 với bà Trần Thị Thanh T1 và ông Lê Văn D ký Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/5/2022 và các văn bản sửa đổi, bổ sung của hợp đồng, để vay số tiền 3.800.000.000 đồng. Mục đích vay thanh toán tiền nhận chuyển nhượng bất động sản đã hình thành theo sản phẩm “an cư”. Thời hạn vay: 228 tháng, kể từ ngày 11/05/2022 đến ngày 11/05/2046. Lãi suất cho vay: 11,49%/năm. Chu kỳ thay đổi lãi suất: cố định trong 12 tháng đầu, sau đó lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở + 2,7%/ năm, chu kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng/lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Kỳ trả nợ gốc: nợ gốc được trả thành nhiều kỳ, mỗi kỳ cách nhau 01 tháng, số tiền được trả mỗi kỳ là 13.194.444 đồng. Kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 01/6/2022, kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 11/5/2046, vào kỳ trả nợ gốc cuối cùng khách hàng phải trả hết nợ gốc còn lại của khoản vay. Kỳ hạn trả lãi: trả lãi hàng tháng vào ngày 01. Kỳ đầu tiên trả nợ lãi là ngày 01/6/2022, kỳ trả nợ lãi cuối cùng là ngày 11/5/2046.

2. Ký kết hợp đồng cấp thẻ tín dụng

Bà Trần Thị Thanh T1 đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 17/06/2022 với Ngân hàng TMCP X1 - Chi nhánh A - P1, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng bao gồm thẻ visa và thẻ master

- Thẻ Visa: Tên chủ thẻ là bà Trần Thị Thanh T1, hạn mức thẻ là 30.000.000 đồng, thời hạn sử dụng thẻ là đến tháng 6/2025, lãi suất thẻ là 33%/năm, phí trễ hạn là 4%/số tiền tối thiểu chưa thanh toán, sao kê hàng tháng là ngày 23, hình thức bảo đảm là tín chấp, mục đích là tiêu dùng.

- Thẻ Master: Tên chủ thẻ là Trần Thị Thanh T1, hạn mức thẻ là 20.000.000 đồng, thời hạn sử dụng thẻ đến hết tháng 6/2025, lãi suất thẻ là 33%/năm, phí trễ hạn là 4%/số tiền trễ hạn chưa thanh toán, sao kê hàng tháng là ngày 20, hình thức đảm bảo là tín chấp, mục đích là tiêu dùng.

3. Tài sản thế chấp bảo đảm cho hợp đồng tín dụng:

Bà T1, ông D ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 091/EIBAG.LX-TD/TCTS/2022 ngày 24/5/2022 được Phòng C tỉnh An Giang chứng nhận ngày 24/05/2022 (số công chứng: 1599, quyển số: 05/2022/TP/CC-SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đ - Chi nhánh L, tỉnh An Giang ngày 25/05/2022, tài sản thế chấp là căn nhà và quyền sử dụng 57m² đất (thửa số 251, tờ bản đồ số 42) tại đường Đ, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CV986953, số vào sổ cấp GCN: CS13980 do Sở T6 cấp ngày 29/9/2020 (có cập nhật thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận do Văn phòng Đ chi nhánh L ký xác nhận ngày 05/10/2021, ngày 29/03/2022 và ngày 20/05/2022) do ông Lê Văn D và bà Trần Thị Thanh T1 đứng tên.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

- Đối với Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022: Tính đến ngày 21/5/2024 bà T1, ông D còn nợ vốn, lãi là 4.049.962.277 đồng. Trong đó vốn gốc: 3.615.277.780 đồng, lãi: 404.826.444 đồng, phạt quá hạn vốn: 13.116.723 đồng, phạt quá hạn lãi: 16.741.330 đồng.

- Đối với thẻ Visa: Tính đến ngày 21/5/2024, còn nợ vốn, lãi là 39.687.223 đồng. Trong đó vốn gốc: 27.730.665 đồng, lãi trong hạn là 7.371.039 đồng, lãi quá hạn là 3.685.519 đồng và phí trễ hạn là 900.000 đồng.

- Đối với thẻ M: Tính đến ngày 21/5/2024, còn nợ vốn, lãi là 26.599.961 đồng. Trong đó vốn gốc: 18.374.015 đồng, lãi trong hạn là 4.883.964 đồng, lãi quá hạn là 2.441.982 đồng và phí trễ hạn là 900.000 đồng.

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nay Ngân hàng yêu cầu:

- Buộc bà Trần Thị Thanh T1 và ông Lê Văn D phải hoàn trả toàn bộ một lần số nợ của Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng TMCP X1 do Ngân hàng TMCP X1 - Chi nhánh A đại diện nhận số tiền vốn, lãi và phí tạm tính đến ngày 21/5/2024 nêu trên.

Yêu cầu tính lãi phát sinh từ sau ngày 22/5/2024 cho đến khi thanh toán dứt điểm số tiền vốn, lãi.

Trường hợp bà Trần Thị Thanh T1 và ông Lê Văn D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 091/EIBAG.LX-TD/TCTS/2022 ngày 24/05/2022 được công chứng tại Phòng C An Giang nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành án.

Bị đơn bà Trần Thị Thanh T1 trình bày tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 11/3/2024: Bà thống nhất có vay Ngân hàng theo thông báo thụ lý số 20/TBTLVA, ngày 11/01/2024, trường hợp không thanh toán nợ được thì Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 091/EIBAG.LA.TD/TCTS2022, ngày 24/5/2022.

Bị đơn ông Lê Văn D vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn bà Trần Thị Thanh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Văn D vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án là không chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D với Ngân hàng TMCP X1 thỏa thuận ký các hợp đồng tín dụng vay tổng số tiền là 3.850.000.000 đồng. Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong các hợp đồng tín dụng dẫn đến quá hạn. Đến ngày 21/5/2024 bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D còn nợ vốn, lãi của Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022 là 4.049.962.277 đồng; của Thẻ Visa là 39.687.223 đồng; của Thẻ M1 là 26.599.961 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị Thanh T1 thống nhất yêu cầu của Ngân hàng, bị đơn ông Lê Văn D vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Xét, các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên là trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên Ngân hàng TMCP X1 yêu cầu trả toàn bộ vốn, lãi và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Đối với Hợp đồng thế chấp mà bà T1, ông D ký kết với Ngân hàng TMCP X1 đã thực hiện đúng trình tự thủ tục, có công chứng, có đăng ký giao dịch bảo đảm, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch, khi bà T1, ông D vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết án phí theo quy định pháp luật.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022; Hợp đồng thế chấp, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 17/06/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CV986953, số vào sổ cấp GCN: CS13980; Bảng kê tính lãi đến ngày 21/5/2024; Biên bản xác minh, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là về hợp đồng tín dụng; bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thì tài sản của bà T1, ông D hiện trạng nhà đang bỏ trống, do bà Trần Thị Thanh T1 có đến trông coi, không dọn dẹp, không sinh sống.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D có ký kết các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP X1 để vay số tiền 3.850.000.000 đồng. Đến ngày 21/5/2024 bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D còn nợ vốn, lãi của Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022 là 4.049.962.277 đồng; của Thẻ Visa là 39.687.223 đồng; của Thẻ M1 là 26.599.961 đồng. Tổng cộng là 4.116.249.461 đồng.

Từ khi vay bà T1, ông D không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong các hợp đồng, nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn. Nay Ngân hàng TMCP X1 yêu cầu bà T1, ông D phải trả toàn bộ số tiền vốn, lãi và tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi trả xong khoản nợ. Ngoài ra, Ngân hàng TMCP X1 còn yêu cầu trường hợp bà T1, ông D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn, lãi.

[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022; Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 17/06/2022, Hội đồng xét xử nhận định: Các Hợp đồng tín dụng mà các bên ký kết trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, nội dung, hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 398 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 94 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình thực hiện hợp đồng bên vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, bên cho vay có kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, nên được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên.

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ vốn, lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết làm phát sinh nợ quá hạn nên Ngân hàng yêu cầu thanh toán vốn, lãi và tiếp tục tính lãi, phí phát sinh cho đến khi trả xong toàn bộ vốn, lãi là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[2.2] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 091/EIBAG.LX-TD/TCTS/2022 ngày 24/5/2022 được Phòng C tỉnh An Giang chứng nhận ngày 24/05/2022. Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, có công chứng và có đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 và khoản 3 Điều 188 Luật đất đai 2013 và điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/09/2017 của Chính Phủ quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Ngân hàng TMCP X1 yêu cầu nếu bà T1, ông D không trả được vốn, lãi thì được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 800.000 đồng. Do bà T1, ông D vi phạm nghĩa vụ nên bà T1, ông D phải chịu, Ngân hàng TMCP X1 đã tạm ứng đủ, bà T1, ông D phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền này cho Ngân hàng TMCP X1.

[3] Về án phí:

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T1, ông D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị buộc thanh toán (4.116.249.461 đồng) là 112.116.000 đồng.

Với yêu cầu được chấp nhận Ngân hàng TMCP X1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 398 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X1 đối với bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D:

- Buộc bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D có nghĩa vụ trả tổng số tiền vốn, lãi tính đến ngày 21/5/2024:

  • + Đối với Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022: Tính đến ngày 21/5/2024 bà T1, ông D còn nợ vốn, lãi là 4.049.962.277 đồng. Trong đó vốn gốc: 3.615.277.780 đồng, lãi: 404.826.444 đồng, phạt quá hạn vốn: 13.116.723 đồng, phạt quá hạn lãi: 16.741.330 đồng.
  • + Đối với thẻ Visa: Tính đến ngày 21/5/2024, còn nợ vốn, lãi là 39.687.223 đồng. Trong đó vốn gốc: 27.730.665 đồng, lãi trong hạn là 7.371.039 đồng, lãi quá hạn là 3.685.519 đồng và phí trễ hạn là 900.000 đồng.
  • + Đối với thẻ M1: Tính đến ngày 21/5/2024, còn nợ vốn, lãi là 26.599.961 đồng. Trong đó vốn gốc: 18.374.015 đồng, lãi trong hạn là 4.883.964 đồng, lãi quá hạn là 2.441.982 đồng và phí trễ hạn là 900.000 đồng.

- Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D còn phải chịu lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LAV-220039073/1522 ngày 09/05/2022; Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 17/06/2022, kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Trường hợp bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP X1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 091/EIBAG.LX-TD/TCTS/2022 ngày 24/5/2022 để thu hồi toàn bộ vốn, lãi và phí.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP X1 số tiền 800.000 đồng.

3. Về án phí:

- Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn D phải chịu 112.116.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng TMCP X1 được nhận lại 54.420.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: 0001419 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Văn Sơn Phạm Ngọc Nguyên

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/DS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 164/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khời kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger