Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2025/HNGĐ-ST

Ngày 31/12/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước, ông Trần Quang Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 166/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Bửu T, sinh ngày 15/8/1989;
  2. (CCCD số: [...])

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Ông Phan Văn P, sinh ngày 11/01/1987;
  4. (CMND số: [...])

    Địa chỉ: Tổ A, T, xã T, tỉnh An Giang.

    (Bà Nguyễn Bửu T có đơn xin vắng mặt, ông Phan Văn P vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Bửu T trình bày như sau:

Bà và Phan Văn P tự nguyện tìm hiểu, sau đó kết hôn với nhau vào năm 2010, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang) ngày 15/02/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân do ông P có qua lại với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc. Trước đây, bà đã nhiều lần gởi đơn khởi kiện về việc ly hôn nhưng vì con, bà đã rút đơn kiện và cho ông P có cơ hội thay đổi, vợ chồng hàn gắn. Nhưng thời gian qua, bà đã cố gắng hàn gắn nhưng ông P vẫn không thay đổi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay nhận thấy hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn P. Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phan Bửu L, sinh ngày 06/8/2011 và Phan Tuệ N, sinh ngày 20/12/2016. Sau ly hôn, bà T yêu cầu nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông P sẽ tự thỏa thuận với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà T có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bà T trình bày: Về con chung, do cháu L có yêu cầu sống với cha nên bà đồng ý giao cháu L cho ông P nuôi, còn cháu N do bà nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Phan Văn P đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Phan Văn P vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ việc; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các thủ tục tố tụng khác đúng theo quy định.

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ việc.

Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông Phan Văn P. Bà T được ly hôn với ông P. Về quan hệ con chung: Giao cháu Phan Bửu L, sinh ngày 06/8/2011 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Phan Tuệ N, sinh ngày 20/12/2016 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T và ông P phải tạo điều kiện cho cả hai thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở quyền này. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, xác định không có nợ chung nên không đặt ra xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”. Bị đơn ông Phan Văn P có hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền.

Bà Nguyễn Bửu T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; ông Phan Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T và ông P.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà T và ông P chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang) ngày 15/02/2011 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong quá trình hôn nhân, bà T trình bày do ông P có qua lại với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn P.

Tòa án đã triệu tập ông Phan Văn P tham gia phiên hòa giải nhưng ông không có mặt, cũng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện, thể hiện thái độ không hợp tác và không có thiện chí hàn gắn.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P đã rạn nứt, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[2.2] Về con chung: Bà T xác định trong thời kỳ hôn nhân, giữa bà và ông Phan Văn P có 02 con chung tên Phan Bửu L, sinh ngày 06/8/2011 và Phan Tuệ N, sinh ngày 20/12/2016.

Xét thấy, cháu L có nguyện vọng được sống cùng với cha và bà T cũng đồng ý giao cháu L cho ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu N có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu L và cháu N, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu, giúp cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu L cho ông P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu N cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên ông P và bà T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Ông P và bà T phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Khi có yêu cầu, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Bà T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bửu T.

  • - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Bửu T được ly hôn với ông Phan Văn P.
  • - Về con chung: Bà Nguyễn Bửu T và ông Phan Văn P có 02 con chung tên Phan Bửu L, sinh ngày 06/8/2011 và Phan Tuệ N, sinh ngày 20/12/2016.

Giao cháu Phan Bửu L, sinh ngày 06/8/2011 cho ông Phan Văn P được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Giao cháu Phan Tuệ N, sinh ngày 20/12/2016 cho bà Nguyễn Bửu T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Bà Nguyễn Bửu T và ông Phan Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Bửu T và ông Phan Văn P phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có yêu cầu, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Bửu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004338 ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh A (Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang).

Ông Phan Văn P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Bà Nguyễn Bửu T và ông Phan Văn P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV 10 - AG;
  • - Phòng THADS KV 10 - AG;
  • - UBND xã Tây Phú
  • (Giấy chứng nhận kết hôn số
  • 04/2011 ngày 15/02/2011);
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu VP, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 164/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger