Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THẤT

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 11 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khuất Đăng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Nguyễn Văn Chiến;
  • + Bà Nguyễn Thị Mai;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Công- Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/ 2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với:

1/ Bị cáo: Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Phương H, sinh năm 1982; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 42/2020/HSST ngày 02/11/2020 của TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí HSST 200.000 đồng. Nguyễn Anh Đ đã chấp hành án phí HSST ngày 10/12/2020 (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại giam S- Công an thành phố H.

2/ Bị hại: Công ty cổ phần X; Địa chỉ trụ sở: Thôn L, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H1 – Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ H2, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội.

3/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.

(Người có mặt: Bị cáo. Người vắng mặt: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Anh Đ thuê phòng trọ của ông Phan Thành Q1, sinh năm 1983 (Địa chỉ: Thôn B xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) và làm công nhân tại công trường Viettel trong khu C. Ngày 26/8/2024, Nguyễn Anh Đ trên đường đi về phòng trọ thì phát hiện cuộn dây điện màu đen loại cáp điện (24KV)AL/XLPE/CTS/PVC-W 1x150 nhãn hiệu CADISUN, của Công ty Cổ phần X gửi trong vườn nhà ông Lê Tiến B, sinh năm 1979 (Trú tại: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) không có người ở và người trông giữ nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ ngày 29/8/2024, Đ mang theo 01 chiếc kìm cộng lực từ nhà trọ đến vườn để dây cáp điện (cách khoảng 30m) và dùng kìm cắt 138,27m dây cáp điện thành nhiều đoạn dài khoảng từ 3 đến 5m. Khoảng 18 giờ ngày 02/9/2024, Đ mượn xe máy nhãn hiệu Dream mang BKS: 16H1 – 1444 của ông Sồng A T1, sinh năm 1994 (Trú tại: T, huyện B, tỉnh Sơn La) là người thuê cùng khu trọ, rồi đi đến khu vườn lấy 01 đoạn dây cáp điện dài khoảng 02m và mang đến cửa hàng thu mua sắt vụn của bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1977 (Trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) và hỏi bà Q “chị có mua dây cáp này không”, bà Q trả lời “dây này mua được 20.000đ/1kg” thì Đ nói “lát em mang tới” rồi đi về nhà trọ trả xe cho anh T1. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ sang phòng của anh T1 và tiếp tục mượn xe máy đi đến công trường V tại khu Công nghệ cao H (nơi Đ làm thuê) hỏi ông Bùi Văn B1 là bảo vệ tại công trường cho mượn xe cải tiến và Đ điều khiển xe máy kéo theo xe cải tiến đi về vườn nhà ông B nhặt các đoạn dây cáp điện lên xe cải tiến rồi chở đến bán cho bà Nguyễn Thị Q. Số dây cáp điện nặng 28,5kg bà Q trả cho Đ số tiền 570.000đồng. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe máy kéo theo xe cải tiến quay lại lấy nốt số dây cáp điện và đang đưa lên xe cải tiến thì bị anh Khuất Đình C, sinh năm 1991 (Trú tại: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) phát hiện nên Đ bỏ chạy. Đến 23 giờ cùng ngày, Đ đến trụ sở Công an xã T đầu thú.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Dream mang BKS: 16H-1444; 01 (một) xe cải tiến; 01 (một) kìm cộng lực; 570.000đ (năm trăm bảy mươi nghìn đồng) của Nguyễn Anh Đ; 30 đoạn dây cáp điện được thu giữ tại cửa hàng buôn bán thu mua sắt vụn của bà Nguyễn Thị Q; 05 đoạn dây cáp điện thu giữ tại hiện trường;10 đoạn dây cáp điện thu giữ trên xe cải tiến.

Tổng số đoạn dây cáp điện thu giữ có tổng chiều dài 138,27m.

Tại Kết luận định giá số 81/KL-HĐĐG, ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận giá trị tại thời điểm bị trộm cắp của 138,27m dây cáp điện loại (24KV)AL/XLPE/CTS/PVC-W 1x150 nhãn hiệu CADISUN có tổng giá trị tài sản là 16.018.600 đồng (Mười sáu triệu không trăm mười tám nghìn sáu trăm đồng).

Vật chứng:

  • Đối với Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream mang BKS: 16H1 - 1444, qua xác minh là xe của anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1984 (Trú tại: Thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình). Ngày 02/9/2024, anh H3 về quê và gửi chìa khóa điện xe mô tô cho anh Sồng A T1 là người trọ cùng phòng. Anh H3 không biết việc anh T1 cho Đ mượn xe mô tô nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe mô tô này cho anh H3.

  • Đối với 138,27m dây cáp điện loại (24KV)AL/XLPE/CTS/PVC-W 1x150 bị cắt làm nhiều đoạn ngắn, Cơ quan điều tra đã trảo trả cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty Cổ phần X.

Đại diện Viện kiểm sát kết luận: Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố Nguyễn Anh Đ về tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.

Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại nên không buộc bị cáo chịu trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 46, 47 BLHS và điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 kìm công lực là hung khí gây án.

Buộc Nguyễn Anh Đ phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyễn Anh Đ đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong ngày ngày 26/8/2024 đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 138,27m dây cáp điện loại (24KV)AL/XLPE/CTS/PVC-W 1x150 nhãn hiệu CADISUN của Công ty cổ phần X có tổng giá trị là 16.018.600 đồng (Mười sáu triệu không trăm mười tám nghìn sáu trăm đồng). Hành vi của bị cáo thực hiện đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ gây bất bình trong quần chúng nhân dân và an ninh trật tự khu vực.

[2] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án: Nguyễn Anh Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 52 BLHS. Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS đó là “Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” và 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS đó là “Bị cáo đầu thú”, “Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt” và “bố đẻ là người được tặng huy chương về thành tích phục vụ trong quân ngũ”. Từ đó, khi lượng hình cần có hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra cho xã hội. Hoàn cảnh gia đình bị cáo có bố đang phục vụ trong quân ngũ, mẹ mắc bệnh hiểm nghèo. Bị cáo có công việc ổn định, có nơi cư trú rõ ràng nên cần thiết áp dụng điều 65 BLHS để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với sự giám sát giáo dục của gia đình và chính quyền cũng giúp bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Xét thấy: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không thể chấp hành hình phạt bổ sung nên thấy cần thiết miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy 01(một) kìm công lực(Như biên bản giao nhận vật chứng số 09/THSDS/2024 ngày 04/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất) là tang vật bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Về dân sự: Người bị hại đã nhận đủ bồi thường dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đầy đủ tài sản và không yêu cầu nên không đề cập trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Đối với: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không biết tài sản bị cáo mượn dùng vào việc phạm tội, không biết tiêu thụ tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.

Buộc bị cáo chịu án phí HSST và án phí dân sự.

[5] Các tài liệu chứng cứ mà Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa đưa ra xác định Nguyễn Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng điều luật để xử phạt bị cáo là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, Viện kiểm sát xác định ông nội bị cáo có công với cách mạng là không đúng vì bố đẻ bị cáo mới là người được tặng thưởng nhiều huy chương trong quân ngũ. Mức hình phạt tù giam cũng không phù hợp để áp dụng đối với bị cáo vì không thể hiện tính nhân văn, khoan hồng đối với người phạm tội như bị cáo.

[6] Quá trình phát hiện tội phạm, khởi tố, truy tố các cơ quan Công an, Viện kiểm sát đã tiến hành các hoạt động tố tụng đúng quy định, đúng trình tự theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Anh Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung đối với Nguyễn Anh Đ.

Giao Nguyễn Anh Đ về UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS.

Tịch thụ tiêu hủy 01(một) kìm cộng lực (Như biên bản giao nhận vật chứng số 09/THSDS/2024 ngày 04/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất).

Tịch thu sung quỹ nhà nước 570.000 đồng (Năm trăm bảy mươi nghìn đồng) của Nguyễn Anh Đ (Như ủy nhiệm chi số 255 ngày 01/11/2024 của Kho bạc nhà nước huyện T).

[3] Về án phí: Nguyễn Anh Đ phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND t.p Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thạch Thất;
  • - Chi cục T.H.A huyện Thạch Thất;
  • - UBND xã Thường Nga, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS

T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Khuất Đăng Cường

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Đ phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger