Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

Bản án số: 164/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 11 - 2024.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Văn Nay

Ông Đinh Văn Thông

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 202/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trần N, sinh năm 1985, tại Đồng Nai; nghề nghiệp: không; Nơi cư trú: số A, đường T, tổ G, khu phố C, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở: số A, đường H, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn N1 (Đã chết) và bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1948; Bị cáo chưa có vợ con; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 04; Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  1. Ngày 30/9/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại bản án số 269/2014/HSST, ngày 26/8/2015 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Ngày 26/12/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại bản án số 127/2014/HSST. Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự số 269/2014/HSST ngày 30/9/2014 của Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án là 01 năm 10 tháng tù. Đến ngày 25/02/2016 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 13/3/2015 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền án:

  1. Ngày 24/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án số 66/2020/HS-ST. Đến ngày 03/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 24/9/2020 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Ngày 11/5/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 49/2022/HS-ST. Đến ngày 09/07/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1948.

Nơi cư trú: số A, đường T, tổ G, khu phố C, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở: số A, đường H, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

- Người làm chứng: Ông Vũ Trọng K, sinh năm 1965

Nơi cư trú: tổ G, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người chứng kiến: Anh Trương Gia H1, sinh năm 2002

Nơi cư trú: khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, người liên quan có mặt; người làm chứng

và người chứng kiến vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trần N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018, loại và hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine). Để có ma túy sử dụng và tiền tiêu xài, N đã 02 lần mua ma túy từ Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1992, nơi cư trú: khu phố A, phường X, thành phố L để sử dụng và bán kiếm lời. Vì quen biết nên D nói N giao ma túy cho mình và nhận tiền công.

Khoảng 17 giờ ngày 16/01/2024, T (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) sử dụng tài khoản zalo tên “L” nhắn tin đến tài khoản zalo tên “Nothing Is Impossile" của N hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá và chuyển tiền đến tài khoản Momo 0924620538 của N. Sau khi nhận được tiền, N chuyển đến tài khoản 0931559310 tại ngân hàng V (V1) của D và thông báo cho D biết T muốn mua 1.000.000 đồng ma túy đá. Sau đó D sử dụng tài khoản zalo tên “LK N2” nhắn tin cho N đến đường hẻm bên hông tiệm vải H đường H, khu phố E, phường X, thành phố L lấy 02 gói ma túy đá, trong đó 01 gói để bán cho T, 01 gói N cất giấu để bán khi có ai yêu cầu. Sau khi lấy được ma túy, N cất giấu mang về phòng trọ tại khu phố A, phường X sử dụng một ít, phần còn lại bỏ vào bịch nylong, cất giấu trên thành cửa sổ.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N cất 01 gói ma túy đá trong nón bảo hiểm và 01 gói trong quần lót rồi điều khiển xe mô tô Suzuki Hayate, biển số 60U1-4792 đến nhà thờ B thuộc phường B, thành phố L, để xe trong nhà thờ và đi bộ đến nhà nghỉ H2 để bán ma túy cho T thì bị Công an thành phố L kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong nón bảo hiểm của N 01 bịch nylong chứa ma túy đá, trong quần lót N đang mặc 01 bịch nylong chứa ma túy đá nên đã tiến hành niêm phong tang vật, bên ngoài có chữ ký của N theo đúng quy định pháp luật. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của N thu giữ 01 gói nylong hàn kín chứa ma túy đá được giấu trong hộp nhựa hình trụ tròn; 01 nỏ thủy tinh bên trong chứa ma túy đá nên tiến hành niêm phong theo quy định.

Quá trình điều tra và xác định được: Trong khoảng thời gian từ ngày 10 đến ngày 16/01/2024, ngoài bán ma túy cho T thì N đã giúp D bán ma túy cho những đối tượng khác, mỗi ngày từ 01 đến 02 lần, mỗi lần được người mua trả công 50.000 đồng. Số tiền N thu lợi từ việc mua bán ma túy cho D là khoảng 600.000 đồng. Những lần giao ma túy thì không có địa điểm và người mua cụ thể vì việc thực hiện mua bán đều ở ngoài đường.

Hình thức trao đổi mua bán như sau: khi có người mua ma túy thì D sẽ để gói ma túy ở 1 chỗ nào đó rồi chụp hình nói N đến lấy, khi lấy được ma túy thì D gửi vị trí của người mua cho N để N đến giao. Số tiền bán ma túy thì N nhận tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển tiền qua ứng dụng Momo số 0924.620.538 của N, số tiền nhận được từ người mua thì N chuyển lại cho D qua tài khoản ngân hàng 0931.559.310 của ngân hàng Q (M) và ngân hàng V (V1).

Tại bản kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 23/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • + Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 4,4815 gam, loại: Methamphetamine;
  • + Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) chứa trong 01 nỏ thủy tinh và 01 gói nylon hàn kín được niêm phong gửi đến giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,1927 gam, loại: Methamphetamine.

Tại công văn số 261/PC09 ngày 09/8/2024 của Phòng K1 Công anh tỉnh Đồng Nai thì: Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) có tổng khối lượng là 0,1927 gam đều loại Methamphetamine, trong đó:

  • + Mẫu tinh thể màu trắng chứa trong 01 nỏ thủy tinh có khối lượng 0,0271 gam.
  • + Mẫu tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nylong hàn kín có khối lượng 0,1656 gam.

Vật chứng thu giữ:

  • - 03 bịch nylong màu trắng hàn kín, bên trong có chứa ma túy và 01 nỏ thủy tinh chứa ma túy đá. Toàn bộ mẫu vật sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 145/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A, màu đen, có số sim 0924.620.538 Nhật sử dụng liên lạc mua bán ma túy.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate, màu đen đỏ, biển số 60U1-4792. Qua xác minh, chiếc xe trên do anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1975, nơi cư trú: khu phố P, phường X, thành phố L đứng tên chủ sở hữu. Anh S mua năm 2008 nhưng đến năm 2010, anh S đã bán cho bà Trần Thị Thanh H (mẹ ruột N). Khoảng tháng 12/2023, bà H cho N mượn xe để đi làm, không biết N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho bà H.

Tại bản Cáo trạng số: 157/CT-VKSLK ngày 23/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần N về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 và “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • * Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà H trình bày: tôi là mẹ ruột của bị cáo, thời gian trước khi phạm tội thì con tôi thất nghiệp, tôi không hề biết con tôi có mướn nhà trọ ở bên ngoài cũng như công việc của N, xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate, màu đen đỏ, biển số 60U1-4792 là tôi mua cũ lại của anh S, tôi cho N mượn để đi lại chứ không biết N dùng phạm tội, tôi đã nhận lại xe và không có ý kiến gì, kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho con tôi.
  • * Người làm chứng vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.
  • * Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị HĐXX phạt Nguyễn Trần N từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị HĐXX phạt Nguyễn Trần N từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt đối với 02 tội trên.

- Hình phạt bổ sung; các biện pháp tư pháp: Không.

* Xử lý vật chứng:

  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ mẫu vật sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 145/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 sim điện thoại số 0924.620.xxx;
  • + Tịch thu sung công điện thoại di động hiệu Redmi 9A, màu đen mà N sử dụng liên lạc mua bán ma túy. Vật chứng này đã chuyển đến Chi cục THADS thành phố L theo quy định và số tiền 600.000 đồng thu lợi bất chính, đề nghị tuyên tịch thu sung công.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate, màu đen đỏ, biển số 60U1-4792. Qua xác minh, chiếc xe trên do anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1975, nơi cư trú: khu phố P, phường X, thành phố L đứng tên chủ sở hữu. Anh S mua năm 2008 nhưng đến năm 2010, anh S đã bán cho bà Trần Thị Thanh H (mẹ ruột N). Khoảng tháng 12/2023, bà H cho N mượn xe để đi làm, không biết N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho bà H.

* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo ăn năn, hối lỗi về hành vi của mình, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, tại trước nhà nghỉ H2 số 106, đường N, khu phố B, phường B, thành phố L, Công an thành phố L bắt quả tang Nguyễn Trần N có hành vi tàng trữ 4,4815 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán cho các đối tượng nghiện ma túy; khám xét phòng trọ của N ở phòng trọ số C, nhà trọ Võ Thị Kim T1 thuộc khu phố A, phường X, thành phố L tiếp tục phát hiện 0,1927 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích Nhật cất giấu để bán cho những người có nhu cầu.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 10 đến ngày 16/01/2024, N đã giúp Lê Thị Ngọc D1 bán ma túy mỗi ngày từ 01 đến 02 lần để hưởng tiền công 50.000 đồng/lần. Số tiền N thu lợi từ việc mua bán ma túy cho D1 là khoảng 600.000 đồng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần và bản thân N đã có 02 tiền án, đây là những tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với khối lượng 0,0271 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ trong nỏ thủy tinh trong phòng trọ của N dùng để sử dụng. Bản thân N đã có 1 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên hành vi này đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:

Bị cáo là người đã nhiều lần vi phạm pháp luật, nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử và phải chấp hành án về các tội danh xâm phạm sở hữu tài sản và ma túy, đáng lẽ khi chấp hành án xong sau khi hòa nhập cộng đồng, bị cáo phải từ bỏ ma túy và tìm kiếm cho mình công việc để nuôi sống bản thân nhưng bị cáo đã không từ bỏ ma túy mà có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy để có tiền và ma túy sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà Nước, gây tác hại đến sức khỏe, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội, hơn nữa ma túy còn là tác nhân, tiền đề cho những loại tội phạm khác.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng mức án thật nghiêm buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

[6] Về các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với T, người đã mua ma túy của N, hiện nay chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Thị Ngọc D, người đã giao ma túy cho N đi bán, hiện đã bị khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 18/QĐ-KTMT ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 145/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ. Sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A, màu đen có số sim 0924620538 N sử dụng liên lạc mua bán ma túy và số tiền 600.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần N 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành chung là 09 (Chín) năm tù, thời hạn tính từ ngày 16/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trần N để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 145/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ. Sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A, màu đen có số sim 0924620538. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai) và bị cáo phải nộp số tiền 600.000 đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Bị cáo Nguyễn Trần N phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - THADS TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Tran Nhat mua ban trai phep chat ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger